Nhân Hòa Tự

《仁和寺》 rén hé sì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Ninna-ji: ngôi chùa tọa lạc tại Sakyō-ku (), Kyōto-shi (), còn được gọi là Ngự Thất Ngự Sở (), Nhân Hòa Tự Môn Tích (), là ngôi chùa trung tâm Tổng Bản Sơn của Phái Ngự Thất () thuộc Chơn Ngôn Tông. Vào năm 886 (niên hiệu Nhân Hòa [] thứ 2), Quang Hiếu Thiên Hoàng (, Kōkō Tennō) cho thiết lập ngôi Già Lam ở phía nam Đại Nội Sơn (), nhưng giữa chừng thì băng ngự; sau đó, kế thừa di chí của phụ thân, Vũ Đa Thiên Hoàng (, Uda Tennō) tiếp tục công trình xây dựng; đến năm 888 (niên hiệu Nhân Hòa thứ 4) thì hoàn thành, cho tôn trí tôn tượng A Di Đà Tam Tôn và lấy tên là Nhân Hòa Tự. Về sau, Vũ Đa Thiên Hoàng nhường ngôi lại cho Đề Hồ Thiên Hoàng (, Daigo Tennō), rồi theo Xuất Gia với Ích Tín (, Yakushin) và cuối cùng băng ngự tại chùa này. Từ đó trở về sau, từ thời vị Pháp Thân Vương Tánh Tín (, Shōshin), cho đến đầu thời Minh Trị (, Meiji), chư vị Pháp Thân Vương vẫn tiếp tục hộ trì cho chùa. Các ngôi đường xá của chùa được tạo lập trong khoảng thời gian niên hiệu Khoan Vĩnh (, 1624-1644), bao gồm luôn cả các ngôi điện trong cung nội. Bức A Di Đà Tam Tôn là tượng thuộc loại Quốc Bảo có dạng thức kiến tạo đương thời. Ngoài ra, chùa còn lưu giữ khá nhiều bảo vật khác như tượng vẽ Khổng Tước Minh Vương () thuộc thời Nam Tống của Trung Quốc, cũng như các tranh tượng Mật Giáo. Bên cạnh đó, còn có các bản sao cổ như Biệt Tôn Tạp Ký () 57 quyển—bộ sách thâu tập các tranh tượng do Tâm Giác (, Shinkaku, 1117-1180) soạn, Y Tâm Phương (, bản chép tay dưới thời Bình An) 5 thiếp—sách y học tối cổ của Nhật Bản do Đơn Ba Khang Lại (, Tamba-no-Yasunori, 912-995) biên, v.v.