Nhân Duyên

《因緣》 yīn yuán

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Hetu-pratyaya. Từ gọi chung nhân và duyên. Nhân là Nguyên Nhân bên trong trực tiếp sinh ra kết quả. Duyên chỉ cho Nguyên Nhân gián tiếp giúp đỡ bên ngoài. Do vậy mà Nhân Duyên còn được gọi là Nội Nhân Ngoại Duyên, Thân nhân sơ duyên. Và nói theo nghĩa rộng thì Nhân hàm ý là Nhân và duyên, bao gồm Nội Nhân Ngoại Duyên. Hết thảy muôn vật đều tùy thuộc vào sự tan hợp của Nhân DuyênSinh Diệt, gọi là Nhân Duyên sinh, Duyên sinh, Duyên Thành, Duyên Khởi. Tất cả pháp do Nhân DuyênSinh Diệt, gọi là Nhân Duyên Sinh Diệt pháp; còn cái kết quả do nhân và duyên hòa hợp mà sinh ra thì gọi là Nhân Duyên hòa hợp. Hết thảy vạn hữu đều do Nhân Duyên hòa hợp mà giả sinh, không có tự tính, đó chính là lí Nhân Duyên tức không. Nếu lấy Phiền Não làm nhân, lấy nghiệp làm duyên thì sẽ chiêu cảm quả cõi mê; còn nếu lấy trí làm nhân, lấy định làm duyên thì sẽ chiêu cảm quả cõi ngộ. Ngoài ra, luận Câu xá quyển 6, quyển 7 có nêu thuyết 6 nhân 4 duyên. Sáu nhân: Năng Tác Nhân, Câu Hữu Nhân, Tương ứng nhân, Đồng Loại Nhân, Biến Hành Nhân và Dị Thục Nhân. Bốn duyên: Nhân Duyên, Sởduyênduyên, Đẳng Vô Gián DuyênTăng Thượng Duyên. Trong đó, Năng Tác Nhân trong 6 nhân là Tăng Thượng Duyên trong 4 duyên, còn 5 nhân kia thì là Nhân Duyên trong 4 duyên. Nhưng tông Duy Thức thì cho rằng Đồng Loại Nhân trong 6 nhân là chung cho cả Nhân DuyênTăng Thượng Duyên, còn 5 nhân kia là Tăng Thượng Duyên. Đồng Loại NhânNguyên Nhân dẫn sinh ra quả Đẳng Lưu, vì thế cũng gọi là Tự chủng nhân. Cũng như luận Câu xá cho rằng nhân khác tính dẫn sinh ra quả khác tính là Nhân Duyên. [X. kinh Tạp a hàm Q. 1.; kinh Đại Thừa nhập lăng già Q. 2.; phẩm Quán Tứ Đế trong Trung Luận Q. 4.; luận Đại tì Bà Sa Q. 16.; luận Đại Thừa khởi tín; luận Thành Duy Thức Q. 2.; luận Du Già sư địa Q. 3., 5, 38;luận Hiển dương Thánh Giáo Q. 18.]. (xt. Nhân, Duyên).
II. Nhân Duyên. Nhân tức là duyên, chỉ cho Nhân Duyên trong 4 duyên. (xt. Tứ Duyên).
III. Nhân Duyên. Phạm: Nidàna. Cũng gọi Duyên Khởi.Thể tài thứ 6 trong 12 thể tài kinh. (xt. Ni Đà Na).