Ngoã Quan Tự
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Chùa ở Phượng hoàng đài, Nam Kinh, tỉnh Giang tô, Trung Quốc do ngài Tuệ lực vâng sắc chỉ của vua xây dựng vào năm Hưng minh thứ 2 (364) đời Đông Tấn. Vì khi đào đất làm chân móng để xây cất thì bắt gặp 1 cái quan tài xưa bằng sành (Ngõa quan) cho nên đặt tên là chùa Ngõa quan. Ít lâu sau, ngài Tuệ lực lại xây 1 tòa tháp, rồi tiếp đến ngài Trúc pháp thải trụ trì, thì chùa được mở rộng thêm, Điện Đường, lầu gác nguy nga, tráng lệ, là nơi giảng kinh Thuyết Pháp khang trang, chúng tăng về Tham Học rất đông, chùa trở nên nổi tiếng. Năm Thái nguyên 21 (396), chùa bị hỏa hoạn thiêu rụi, vua ban lệnh phục hưng. Trong chùa thờ 5 pho tượng do Đới an đạo (Đới quì ?-396) tạo, một pho tượng Phật bằng ngọc do vua nước Sư tử (Tích lan) dâng cúng và tượng Cư Sĩ Duy Ma do ông Cố trường lạc (344-405) vẽ. Sau đời Lưu Tống, các ngài Tuệ quả, Tuệ cừ, Tuệ trọng, Tăng Đạo, Cầu Na Bạt Ma, Bảo ý v.v... kế tiếp nhau trụ ở chùa này, tuyên giảng kinh luận và Phiên Dịch kinh Phạm. Đời Lương xây dựng thêm Ngõa quan các. Niên hiệu Quang đại năm đầu (567) đời Trần, ngài Trí Khải ở đây giảng kinh luận Đại trí độ và Thứ Đệ Thiền Môn, đồng thời, ngài còn tu bổ chùa ngày càng thêm hoàn mĩ. Đời Ngũ đại, chùa được đổi tên là Thăng nguyên. Đời Tống, năm Thái bình hưng quốc (976- 983), vua ban sắc đổi tên là chùa Sùng thắng. Đầu đời Minh, chùa bị hoang phế, 1 nửa trở thành khu vườn của dòng họ Từ ngụy công, còn 1 nửa bị sáp nhập vào đồn kị binh. Khoảng năm Gia tĩnh, ngôi am Tích khánh được xây bên cạnh khu vườn của họ Từ, gọi là Cổ Ngõa am tự, nhưng không phải trên nền cũ của chùa Ngõa quan.Năm Vạn lịch 19 (1591), các ngài Tăng viên v.v... quyên tiền xây am Tùng quế ở phía bên phải đài Phượng hoàng, đồng thời, mua 1 thửa đất cao trong khu đài Phượng hoàng để cất chùa lớn, gọi là chùa Thượng ngõa quan và đổi tên am Tích khánh là chùa Hạ ngõa quan. Hiện nay, chùa Thượng ngõa quan gọi là chùa Phượng du, chỉ còn lại 1 phần Điện Đường. [X. Cao Tăng Truyện Q. 5., 6, 12, 13; Thiên thai trí giả đại sư biệt truyện; Tục Cao Tăng Truyện Q. 6., 17; Phật Tổ Thống Kỉ Q. 36., 53; Kim Lăng Phạm Sát Chí 21; Cổ kim đồ thư tập thành chức Phương Điển thứ 661].