Ngộ Đạt

《悟達》 wù dá

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Gotatsu, 811-883: vị Cao Tăng sống dưới thời nhà Đường, xuất thân Hồng Nhã (), Mi Châu (, nay là Tỉnh Tứ Xuyên), họ Trần (), Pháp Danh Tri Huyền (), tự Hậu Giác (). Hồi nhỏ ông rất thích Hình Tượng Phật và hình ảnh chư tăng. Đến năm lên 7 tuổi, nhân đến nghe Pháp Thái () ở Ninh Di Tự () giảng về Kinh Niết Bàn (), đêm đó chợt mộng thấy đức Phật ở chánh điện chùa lấy tay xoa đầu mình. Đến năm 11 tuổi, ông theo Xuất Gia với Pháp Thái, chuyên nghiên cứu về Kinh Niết Bàn. Hai năm sau, ông vâng mệnh vị Thừa Tướng thăng đường Thuyết PhápĐại Từ Tự () đất Thục, thính giả đến nghe lên đến cả vạn người, ai cũng mến phục trí tuệ của ông, bèn tôn xưng ông là Trần Bồ Tát. Sau ông theo Luật Sư Biện Trinh () thọ Cụ Túc Giới, rồi theo Pháp Sư An Quốc Tín () học về Duy Thức, và tự mình nghiên cứu thêm các Kinh Điển của những Tông Phái khác. Ông thường hận mình không thể Thuyết Kinh được bằng tiếng địa phương. Nhân tụng chú Đại Bi, Cảm Ứng được vị Thần Tăng thay lưỡi cho ông trong mộng; hôm sau khi thức dậy, tiếng nói thay đổi. Một thời gian lâu sau, ông ngao du lên kinh đô, gặp lúc vua Võ Tông đang mến mộ phép thuật thành tiên của các đạo gia, nhà vua mời ông cùng luận tranh với các đạo sĩ ấy. Ông Biện Tài lanh lợi, nói thẳng chẳng sợ, nhà vua tuy không thích lời nói của ông nhưng cũng rất vui lòng với kiến thức của ông. Đến thời vua Tuyên Tông, nhà vua mời ông vào cung nội giảng kinh, ban cho Tử Y, phong làm vị Thủ Tòa của Tam Giáo. Vua Ý Tông thường thân lâm đến nghe giảng kinh và ban cho tòa ngồi bằng gỗ trầm hương; do vì ông sanh tâm hoan hỷ nên sanh ra mụt nhọt có mặt người nơi đầu gối của nhiều đời oan nghiệp chất chồng, sau nhờ tôn giả Ca Nặc Ca () giúp cho rửa sạch mụt ấy. Về sau ông xin trở về chùa cũ của mình, đến sống tại Đơn Cảnh Sơn () thuộc Bành Châu (). Khi vua Hy Tông đến viếng thăm đất Thục, có ban cho ông hiệu Ngộ Đạt Quốc Sư. Khá nhiều tầng lớp sĩ phu cùng giao du với ông, như Lý Thương Ẩn () sau khi về vui thú điền viên, đã cùng sống với ông trong một thời gian rất lâu. Ông Thị Tịch vào năm thứ 3 (883) niên hiệu Trung Hòa (), hưởng thọ 73 tuổi đời và 54 Hạ Lạp. Trước tác của ông có Từ Bi Thủy Sám Pháp () 3 quyển, Thắng Man Kinh Sớ () 4 quyển, Bát Nhã Tâm Kinh Sớ (), Kim Cang Kinh Sớ (), v.v. Trong bài cung văn đầu Kinh Thủy Sám có đoạn: “Quốc Sư Ngộ Đạt, quyên trừ lụy thế chi khiên vưu, sự khải Nhất Thời, Pháp Lưu Thiên Cổ, soạn vi Thượng Trung Hạ tam quyển chi nghi văn, Nhân Thiên kính ngưỡng, Sám Ma thân khẩu ý Thập Ác chi Tội Nghiệp, Phàm Thánh quy sùng (, Quốc Sư Ngộ Đạt trừ sạch các oan khiên của nhiều đời, việc mở ra một lúc, Pháp Lưu lại muôn thưở, soạn thành văn nghi thức ba quyển Thượng Trung Hạ, người trời đều kính ngưỡng; Sám Hối Tội Nghiệp Mười Điều Ác của thân, miệng, ý, Phàm Thánh thảy quy sùng).” Trong Phật Tổ Thống Kỷ () quyển 51, phần Tăng Chức Sư Hiệu () có câu: “Hiến Tông tứ Sa Môn Tri Huyền Ngộ Đạt Quốc Sư (, vua Hiến Tông [tại vị 805-820] nhà Đường Ban tặng cho Sa Môn Tri Huyền là Ngộ Đạt Quốc Sư).” Hay như trong Tống Cao Tăng Truyện () quyển 3, Truyện Đường Kinh Sư Mãn Nguyệt (滿) cũng có câu: “Thời Ngộ Đạt Quốc Sư Tri Huyền, hiếu học Thanh Minh, lễ Nguyệt vi sư (, lúc bấy giờ Ngộ Đạt Quốc Sư Tri Huyền thích học về Thanh Minh, bèn bái Mãn Nguyệt làm thầy).”