Nghiệp Chướng
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
s: karmāvaraṇa: còn gọi là nghiệp lụy (業累), là một trong 3 chướng, một trong 4 chướng; nghĩa là Ác Nghiệp do ba nghiệp thân, miệng và ý của Chúng Sanh tạo ra có thể gây chướng ngại chánh đạo, nên có tên gọi như vậy. Theo Bắc Bản Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 11, A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 115, A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 17, v.v., trong các Ác Nghiệp, lấy 5 nghiệp Vô Gián làm Nghiệp Chướng, làm trở ngại lớn nhất đối với sự tu hành Thánh Đạo. Đó là: (1) hại mẹ, (2) hại cha, (3) hại bậc A La Hán, (4) phá sự hòa hợp của tăng, (5) làm thân Phật chảy máu với ác tâm. Trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279) quyển 2, Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm (世主妙嚴品) thứ 1, có câu: “Nhược hữu Chúng Sanh nhất Kiến Phật, tất sử tịnh trừ chư Nghiệp Chướng (若有眾生一見佛、必使淨除諸業障, nếu có Chúng Sanh một lần thấy được Phật, tất khiến cho trừ sạch các Nghiệp Chướng).” Hay trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 60, phần Đại Phương Đẳng Kinh Thất Phật Thuyết Diệt Tội Chú (大方等經七佛說滅罪咒), lại có đoạn: “Như Thị thần chú, cụ đại uy lực, năng thọ trì giả, Nghiệp Chướng tiêu trừ (如是神咒、具大威力、能受持者、業障消除, thần chú như vậy, đủ oai lực lớn, người thường thọ trì, Nghiệp Chướng tiêu trừ).” Hoặc trong Giáo Ngoại Biệt Truyền (敎外別傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1580) quyển 4, phần Ngưu Đầu Sơn Pháp Dung Thiền Sư (牛頭山法融禪師), cũng có đoạn rằng: “Nhất Thiết Phiền Não Nghiệp Chướng, bổn lai Không Tịch, Nhất Thiết Nhân Quả giai như Mộng Huyễn, vô Tam Giới khả xuất, vô Bồ Đề khả cầu (一切煩惱業障、本來空寂、一切因果皆如夢幻、無三界可出、無菩提可求, hết thảy Phiền Não Nghiệp Chướng, xưa nay rỗng lặng, hết thảy Nhân Quả đều như Mộng Huyễn, chẳng Ba Cõi phải ra, chẳng Bồ Đề phải tìm).”