Nghịch Báng Trừ Thủ

《逆謗除取》 nì bàng chú qǔ

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Nhị kinh trừ thủ. Phạm tội Ngũ NghịchPhỉ Báng Chính Pháp có được vãng sinh hay không? Không được là trừ, còn được là thủ (lấy). Nguyện thứ 18 trong kinh Vô lượng thọ quyển thượng nói: Nếu tôi Thành Phật, 10 phương Chúng Sinh đầy đủ 10 niệm đều được sinh về cõi nước của tôi, chỉ trừ những kẻ phạm tội Ngũ Nghịch, Phỉ Báng Chính Pháp. Phẩm Hạ hạ trong kinh Quán vô lượng thọ lại nói: Nếu có Chúng Sinh tạo nghiệp Ngũ Nghịch, Thập Ác, đến lúc Lâm Chung, đầy đủ 10 niệm, thì được vãng sinh. Hai kinh trên nói trái ngược nhau: Một cho rằng kẻ phạm tội Ngũ Nghịch, Phỉ Báng Chính Pháp không được vãng sinh (trừ), một lại cho rằng phạm tội Ngũ Nghịch, Thập Ác cũng được vãng sinh (thủ). Vấn đề mâu thuẫn này, từ xưa đến nay đã được các nhà Tịnh Độ giáo bàn luận rất nhiều. Vãng Sinh Luận chú quyển thượng của ngài Đàm Loan giải thích rằng, kinh Vô lượng thọ loại trừ những kẻ vi phạm cả 2 trọng tội là Ngũ NghịchPhỉ Báng Chính Pháp; còn kinh Quán vô lượng thọ thì chỉ Nhiếp Thủ những người tạo nghiệp Ngũ Nghịch mà không Phỉ Báng Chính Pháp. Vô Lượng Thọ Kinh nghĩa sớ quyển hạ của ngài Tuệ viễn, luận Tịnh Độ quyển thượng của ngài Ca TàiQuán Kinh Sớ Tán Thiện nghĩa của ngài Thiện Đạo đều đồng quan điểm với ngài Đàm Loan. Còn luận Thích Tịnh Độ quần nghi quyển 3 của ngài Hoài Cảm thì nêu ra tất cả 15 ý kiến của 15 nhà như sau:
1. Những người mà Quán kinh lấy (Nhiếp Thủ) là những người biết Sám Hối, còn những người mà Thọ kinh bỏ (loại trừ) là những người không chịu Sám Hối.(Đây là ý kiến của ngài Nguyên Hiểu).
2. Những người mà Quán kinh lấy là những người tạo tội Ngũ Nghịch với Tâm Niệm nhỏ nhẹ; còn những kẻ mà Thọ kinh bỏ là những kẻ tạo tội Ngũ Nghịch với Tâm Niệm sâu nặng.(?).
3. Những người mà Quán kinh lấy chỉ tạo tội Ngũ Nghịch; còn người mà Thọ kinh bỏ thì vừa phạm Ngũ Nghịch vừa Phỉ Báng Chính Pháp.(Đây là ý kiến của ngài Đàm Loan).
4. Những người Quán kinh lấy là giống như người tạo Ngũ Nghịch, còn những người Thọ kinh bỏ thì chính là người tạo Ngũ Nghịch.(?).
5. Người Quán kinh lấy là người biết phát tâm Bồ Đề, còn người mà Thọ kinh bỏ là người không phát tâm Bồ Đề.(Đây là ý kiến của ngài Đạo ngân).
6. Người mà Quán kinh lấy là người chí thành Niệm Phật A di đà, còn người mà Thọ kinh bỏ là người không chí thành Niệm Phật A di đà.(?).
7. Người mà Quán kinh lấy là người thuộc hàng Bồ Tát Thập Tín, còn người mà Thọ kinh bỏ thì không phải hàng Bồ Tát Thập Tín. (Đây là ý kiến của ngài Tuệ viễn).
8. Người mà Quán kinh lấy là không phải hạng Nhất Xiển Đề, còn người mà Thọ kinh bỏ là hạng Nhất Xiển Đề.(?).
9. Người mà Quán kinh lấy là người đã tạo tội Ngũ Nghịch, còn người mà Thọ kinh bỏ là người chưa tạo tội Ngũ Nghịch. (Đây là ý kiến của ngài Thiện Đạo).
10. Người Quán kinh lấy là Khai môn, người mà Thọ kinh bỏ là Giá môn. (Đây là ý kiến của ngài Ca Tài).
11. Nghiệp Ngũ Nghịch mà Quán kinh lấy là chỉ cho Bất Định Nghiệp có thể chuyển được; còn nghiệp Ngũ Nghịch mà Thọ kinh bỏ là chỉ cho Định nghiệp không thể chuyển được. (Ý kiến của ngài Nghĩa Tịch).
12. Những người mà Quán kinh lấy là người thuộc các giai vị Noãn, Đính; còn người mà Thọ kinh bỏ không thuộc các giai vị này.(?).
13. Người mà Quán kinh lấy là người đã gieo 1 phần Thiện Căn giải thoát; còn người mà Thọ kinh bỏ thì không.(?).
14. Người mà Quán kinh lấy là Chúng Sinh thời tượng pháp (đệ nhị giai), còn người Thọ kinh bỏ là Chúng Sinh thời Mạt Pháp (đệ tam giai). (Ý kiến ngài Tín Hành).
15. Người mà Quán kinh lấy chỉ là riêng những người đầy đủ 10 niệm; còn những người mà Thọ kinh bỏ thì bao gồm cả những người đầy đủ và không đầy đủ 10 niệm. (Ý kiến của ngài Hoài Cảm). [X. Vãng sinh yếu tập Q.hạ phần cuối; Quán Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ Q.hạ; Cực Lạc Tịnh Độ Cửu Phẩm Vãng Sinh nghĩa; Thích Tịnh Độ Quần Nghi Luận thám yếu kí Q. 6.].