Ngã Thiên Nhĩ Cẩu

《我天爾狗》 wǒ tiān ěr gǒu

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Ta, Trời, Ông, Chó. Đây là phương pháp biện luận xoay vòng mà Bồ Tát Đề Bà, người Nam Ấn Độ, đã sử dụng để khuất phục các Luận sư Ngoại Đạo ở nước Bát la da già (Phạm: Prayàga) thuộc Trung Ấn Độ vào khoảng thế kỉ
III. Đại Đường Tây Vực Kí quyển 5 (Đại 51, 897 trung) nói: Mới đầu, Bồ Tát Đề Bà từ Nam Ấn Độ đến Già Lam này, trong thành có 1 Ngoại Đạo Bà La Môn, nổi tiếng về tài biện luận vô ngại, thường dồn đối phương đến chỗ lí cùng, ngôn tận. Ông ta nghe ngài Đề Bà là người học thức cao xa, nghiên cứu sâu rộng, muốn chiết phục ngài, nên 1 hôm ông ta đến hỏi: Ngài tên là gì? Đề Bà đáp: Tên Thiên. Ông ta hỏi: Thiên là ai? Đề Bà đáp: Ta. Người kia hỏi: Ta là ai? Đề Bà đáp: Chó. Người kia hỏi: Chó là ai?. Đề Bà đáp: Ông. Người kia hỏi: Ông là ai? Đề Bà đáp: Thiên. Người kia hỏi: Thiên là ai? Đề Bà đáp: Ta. Người kia hỏi: Ta là ai? Đề Bà đáp: Chó. Người kia hỏi: Chó là ai? Đề Bà đáp: Ông. Người kia hỏi: Ông là ai? Đề Bà đáp: Thiên. Cứ hỏi đáp xoay vòng như thế mãi; sau Luận sư kia mới ngộ được. [X. Bách Luận tự; Bách Luận Sớ Q.thượng phần trên; Phó Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện Q. 6.; Đề Bà Bồ Tát truyện; Nam hải kí qui Nội Pháp truyện Q. 4.]. (xt. Ca Na Đề Bà).