Nam Tam Bắc Thất
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Nam ba Bắc bảy. Từ ngữ chỉ cho cách phân loại và hệ thống của sự phán Thích Giáo tướng trong Phật giáo thịnh hành ở thời đại Nam Bắc Triều bên Trung Quốc. Nam Tam Bắc Thất là 10 loại phán giáo của 3 vị sư ở miền Nam và 7 vị sư ở miền Bắc, do ngài Trí Khải –Tổ khai sáng tông Thiên thai– sắp xếp thành hệ thống. Pháp Hoa Huyền Nghĩa quyển 10 thượng nói, các sư ở Giang nam cho rằng, hình thức Thuyết Pháp của đức Phật có 3 giáo: Đốn, Tiệm và Bất Định. Trong đó, Tiệm Giáo có 3 thuyết khác nhau như sau:
1. Sư Ngập ở núi Hổ khâu chủ trương Tam Thời Giáo là Hữu tướng, Vô Tướng và Thường Trụ.
2. Các sư Tông ái, Tăng Mân lại thêm Đồng qui giáo vào trước Thường Trụ Giáo nói trên, gọi là Tứ thời giáo.
3. Các Sư Tăng nhu, Tuệ thứ ở chùa Định lâm và sư Tuệ quán ở chùa Đạo Tràng, lại thêm Bao biếm ức dương giáo vào sau Vô Tướng giáo và trước Đồng qui giáo, gọi là Ngũ Thời Giáo. Bảy sư ở miền Bắc:
1. Cư Sĩ Lưu Cầu ở núi Vũ đô lập Ngũ Thời Giáo là: Nhân Thiên, Hữu tướng, Vô Tướng, Đồng qui và Thường Trụ.
2. Ngài Bồ Đề Lưu Chi lập 2 giáo là Bán Tự và Mãn Tự.
3. Ngài Quang thống (Tuệ quang)lập 4 tông là Nhân Duyên, Giả danh, Cuống tướng và Thường.
4. Ngài Tự quĩ ở chùa Hộ thân thêm vào Pháp Giới Tông, gọi là Ngũ Tông Giáo.
5. Ngài An Lẫm ở chùa Kì xà lập 6 tông là Nhân Duyên, Giả danh, Cuống tướng, Thường, Chân và Viên, gọi là Lục tông.
6. Một vị Thiền Sư (không rõ tên) lập 2 loại Đại Thừa giáo là Hữu tướng và Vô Tướng.
7. Ngài Bồ Đề Lưu Chi (có thuyết nói ngài Cưu Ma La Thập) lập Nhất Âm Giáo, cho rằng đức Phật dùng 1 tiếng nói pháp, Chúng Sinh tùy Cơ Duyên sai khác mà lí giải không giống nhau. [X. Duy Ma Kinh Huyền Sớ Q. 6.; Hoa Nghiêm Kinh Sớ Q. 1.; Pháp Hoa Huyền Nghĩa phục chân sao Q. 6.].
1. Sư Ngập ở núi Hổ khâu chủ trương Tam Thời Giáo là Hữu tướng, Vô Tướng và Thường Trụ.
2. Các sư Tông ái, Tăng Mân lại thêm Đồng qui giáo vào trước Thường Trụ Giáo nói trên, gọi là Tứ thời giáo.
3. Các Sư Tăng nhu, Tuệ thứ ở chùa Định lâm và sư Tuệ quán ở chùa Đạo Tràng, lại thêm Bao biếm ức dương giáo vào sau Vô Tướng giáo và trước Đồng qui giáo, gọi là Ngũ Thời Giáo. Bảy sư ở miền Bắc:
1. Cư Sĩ Lưu Cầu ở núi Vũ đô lập Ngũ Thời Giáo là: Nhân Thiên, Hữu tướng, Vô Tướng, Đồng qui và Thường Trụ.
2. Ngài Bồ Đề Lưu Chi lập 2 giáo là Bán Tự và Mãn Tự.
3. Ngài Quang thống (Tuệ quang)lập 4 tông là Nhân Duyên, Giả danh, Cuống tướng và Thường.
4. Ngài Tự quĩ ở chùa Hộ thân thêm vào Pháp Giới Tông, gọi là Ngũ Tông Giáo.
5. Ngài An Lẫm ở chùa Kì xà lập 6 tông là Nhân Duyên, Giả danh, Cuống tướng, Thường, Chân và Viên, gọi là Lục tông.
6. Một vị Thiền Sư (không rõ tên) lập 2 loại Đại Thừa giáo là Hữu tướng và Vô Tướng.
7. Ngài Bồ Đề Lưu Chi (có thuyết nói ngài Cưu Ma La Thập) lập Nhất Âm Giáo, cho rằng đức Phật dùng 1 tiếng nói pháp, Chúng Sinh tùy Cơ Duyên sai khác mà lí giải không giống nhau. [X. Duy Ma Kinh Huyền Sớ Q. 6.; Hoa Nghiêm Kinh Sớ Q. 1.; Pháp Hoa Huyền Nghĩa phục chân sao Q. 6.].