Mạn Đà

《曼陀》 màn tuó

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: tên một loài hoa, gọi đủ là Mạn Đà La (Sanskrit: māndāra, māndārava, māndāraka, ), ý dịch là thiên diệu (), duyệt ý (), thích ý (), bạch (). Nó còn được gọi là Mạn Đà Lặc Hoa (), Mạn Na La Hoa (), Mạn Đà La Phạn Hoa (), Mạn Đà La Phàm Hoa (). Đây là một trong 4 loại hoa trời và là tên loài hoa trên thiên giới. Hoa có màu đỏ, rất đẹp làm cho người nhìn thấy sanh tâm vui mừng. Cây của nó giống như cây Ba Lợi Chất Đa (Sanskrit: pārijāta, pārijātaka, pāriyātraka, Pāli: pāricchattaka , tên loại cây trên cung trời Đao Lợi [s: Trāyastriṃśa, Pāli: Tāvatiṃsa]). Tên khoa học của loài hoa này là Erythrina indica (Coral tree), sanh sản ở Ấn Độ, nở hoa vào mùa hè, đến khoảng tháng 6, 7 thì kết trái, lá rất sum sê. Bên cạnh đó, nó còn có tên khoa học khác là Calotropis gigantean, là loài Thực Vật thuộc Mã Lợi Cân (), cũng được gọi là Mạn Đà La, thường dùng để dâng cúng cho thần Thấp Bà (Sanskrit: Śiva, Pāli: Siva ). Tại Bồ Tát Đảnh Văn Thù Điện (殿)Ngũ Đài Sơn (), Tỉnh Sơn Tây (西), Trung Quốc có câu đối: “Bách Đạo Tuyền phi giản lưu Công Đức thủy, Ngũ Phong vân dũng thiên vũ Mạn Đà hoa (, trăm lối khe bay suối chảy nước Công Đức, năm núi mây tuôn trời mưa hoa Mạn Đà).” Trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (Sanskrit: Mahāparinirvāṇasūtra, , Taishō No. 374) có đoạn: “Thiện Kiến Thái Tử kiến dĩ, tức sanh ái tâm, hỷ tâm, kính tín chi tâm, vi thị sự cố nghiêm thiết chủng chủng cúng dường Chi Cụ nhi cúng dường chi; hựu phục bạch ngôn: 'Đại Sư Thánh Nhân, ngã kim dục kiến Mạn Đà La Hoa.' Thời Điều Bà Đạt Đa tức tiện vãng chí Tam Thập Tam Thiên, tùng bỉ thiên nhân cầu tác chi (調便, Thái Tử Thiện Kiến thấy xong, tức sanh tâm yêu thích, tâm vui mừng, tâm kính tín, vì việc này nên Trang Nghiêm thiết bày các vật phẩm cúng dường để cúng dường; rồi lại thưa rằng: 'Thưa Đại Sư Thánh Nhân, con nay muốn thấy hoa Mạn Đà La.' Khi ấy Điều Bà Đạt Đa bèn qua đến Cõi Trời Ba Mươi Ba, theo thiên nhân ở đó mà cầu xin hoa).” Hay trong Phật Thuyết Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sanh Đâu Suất Thiên Kinh (, Taishō No. 452) cũng có đoạn: “Bách thiên thiên tử tác thiên kỷ nhạc, trì thiên Mạn Đà La Hoa, Ma Ha Mạn Đà La Hoa, dĩ Tán Kì thượng, tán ngôn: 'Thiện Tai ! Thiện Tai ! Thiện nam tử, nhữ ư Diêm Phù Đề Quảng Tu phước nghiệp lai sanh thử xứ, thử xứ danh Đâu Suất Đà Thiên; kim thử chủ danh viết Di Lặc, nhữ đương quy y' (, trăm ngàn thiên tử tấu các kỷ nhạc trời, mang hoa trời Mạn Đà La, hoa Ma Ha Mạn Đà La để rãi lên vị ấy, rồi Tán Thán rằng: 'Lành thay ! Lành thay ! Thiện nam tử, ngươi đã rộng tu phước nghiệp nơi Diêm Phù Đề mà sanh về cõi này; cõi này tên là Đâu Suất Đà Thiên; chủ nhân hiện tại tên là Di Lặc, ngươi nên quy y người').”