Ma Ha Tăng Kì Luật
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Mahàsaíghavinaya. Gọi tắt: Tăng Kì luật. Hán dịch: Đại chúng luật. Luật, 40 quyển, do các ngài Phật Đà Bạt Đà La và Pháp Hiển cùng dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại Chính Tạng tập 22. Đây là bộ Luật của Đại Chúng Bộ trong thời Phật giáo bộ phái. Toàn bộ sách được chia làm 2 phần: Tỉ Khưu Giới Pháp (35 quyển đầu) và Tỉ Khưu Ni Giới Pháp (05 quyển sau). Phần đầu nêu rõ 218 giới, Tạp tụng bạt cừ pháp, Uy nghi pháp, tường thuật các nguyên do chế giới, giải thích các giới điều và tình hình ứng dụng thích hợp. Trong đó, pháp Tạp tụng bạt cừ và pháp Uy nghi tương đương với phẩm Kiền độ của luật Tứ Phần, tức nói về các qui định liên quan đến nghi thức hành sự, Yết Ma và sự sinh hoạt hàng ngày của Tăng Chúng như: ăn, mặc và ở v.v... Phần 2 thì liệt kê 277 giới và Tạp bạt cừ pháp. Sách này cùng với luật Tứ Phần, luật Ngũ Phần và luật Thập Tụng, từ xưa đến nay, được gọi là Tứ Quảng Luật. Nếu so với 3 bộ luật kia thì sách này đặc sắc hơn nhiều, vì các điểm sau đây:
1. Về thời gian chế định 4 pháp Ba La Di được suy định vào khoảng từ nửa tháng thứ 5 mùa đông năm thứ 5 sau khi Đức Phật thành đạo, đến nửa tháng thứ 4 mùa đông năm thứ
6. 2. Những điều được ghi trong Thất Bách Kết Tập Luật tạng, không nêu ra 10 việc phi pháp, mà chỉ nói đến Ngũ Tịnh Pháp. Hơn nữa, cũng không đề cập gì đến chủ trương phủ nhận của các Tỉ Khưu Bạt Kì.
3. Nội dung sách có chép hơn 40 loại Bản sinh đàm và viện dẫn hơn 20 loại kinh Bản sinh v.v...Cứ theo điều Ngũ bách Tỉ Khưu tập Pháp Tạng trong quyển 32 của bộ luật này, thì luật Ma Ha Tăng Kì là do ngài Ưu Ba Li vâng mệnh ngài Ma Ha Ca Diếp mà tụng ra, kế đến, điều đã dẫn, ghi rõ tên của 27 vị truyền thừa luật này, bắt đầu từ các Ngài: Đà Sa Bà La, Thụ Đề Đà Sa, Kì Đa v.v... Đây là tư liệu về sự truyền thừa của luật này. Lại theo Pháp Hiển Truyện chép, thì mục đích của ngài Pháp Hiển đến Ấn Độ là để tìm cầu giới luật, nhưng giới luật ở các nước Bắc Thiên Trúc thì đều thầy trò truyền miệng cho nhau, không có bản văn để có thể sao chép lại. Mãi đến khi ngài Pháp Hiển tới chùa Ma Ha Diễn tại Trung Thiên Trúc mới có được 1 bộ luật, tức là luật Ma Ha Tăng Kì chúng, được truyền ở Tinh Xá Kì Hoàn, là bộ luật được đại chúng Hành Trì sớm nhất, lúc đức Phật còn tại thế. Ngoài ra, Xuất Tam Tạng kí tập quyển 3 và Thập tì ni nghĩa sao quyển 1, cho rằng luật Tăng Kì là do Độc Tử Bộ truyền, thuyết này e có sự lầm lẫn. [X. Đại Đường Tây Vực Kí Q. 9.; Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q. 3., 4, 5; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 1., 3, 15].
1. Về thời gian chế định 4 pháp Ba La Di được suy định vào khoảng từ nửa tháng thứ 5 mùa đông năm thứ 5 sau khi Đức Phật thành đạo, đến nửa tháng thứ 4 mùa đông năm thứ
6. 2. Những điều được ghi trong Thất Bách Kết Tập Luật tạng, không nêu ra 10 việc phi pháp, mà chỉ nói đến Ngũ Tịnh Pháp. Hơn nữa, cũng không đề cập gì đến chủ trương phủ nhận của các Tỉ Khưu Bạt Kì.
3. Nội dung sách có chép hơn 40 loại Bản sinh đàm và viện dẫn hơn 20 loại kinh Bản sinh v.v...Cứ theo điều Ngũ bách Tỉ Khưu tập Pháp Tạng trong quyển 32 của bộ luật này, thì luật Ma Ha Tăng Kì là do ngài Ưu Ba Li vâng mệnh ngài Ma Ha Ca Diếp mà tụng ra, kế đến, điều đã dẫn, ghi rõ tên của 27 vị truyền thừa luật này, bắt đầu từ các Ngài: Đà Sa Bà La, Thụ Đề Đà Sa, Kì Đa v.v... Đây là tư liệu về sự truyền thừa của luật này. Lại theo Pháp Hiển Truyện chép, thì mục đích của ngài Pháp Hiển đến Ấn Độ là để tìm cầu giới luật, nhưng giới luật ở các nước Bắc Thiên Trúc thì đều thầy trò truyền miệng cho nhau, không có bản văn để có thể sao chép lại. Mãi đến khi ngài Pháp Hiển tới chùa Ma Ha Diễn tại Trung Thiên Trúc mới có được 1 bộ luật, tức là luật Ma Ha Tăng Kì chúng, được truyền ở Tinh Xá Kì Hoàn, là bộ luật được đại chúng Hành Trì sớm nhất, lúc đức Phật còn tại thế. Ngoài ra, Xuất Tam Tạng kí tập quyển 3 và Thập tì ni nghĩa sao quyển 1, cho rằng luật Tăng Kì là do Độc Tử Bộ truyền, thuyết này e có sự lầm lẫn. [X. Đại Đường Tây Vực Kí Q. 9.; Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q. 3., 4, 5; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 1., 3, 15].