Lương Tôn

《良尊》 liáng zūn

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Ryōson, 1279-1349: hay còn gọi là Pháp Minh (, Hōmyō), vị Cao Tăng của Dung Thông Niệm Phật Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Nam Bắc Triều, xuất thân vùng Thâm Giang (), Hà Nội (, Kawachi, tức Ōsaka), trú trì đời thứ 7 của Đại Niệm Phật Tự (, Dainembutsu-ji); tục danh là Thanh Nguyên Đạo Trương (), tên lúc nhỏ là Tín Quý Thiên Đại (); hiệu là Pháp Minh Phòng (), con của Thanh Nguyên Hữu Kinh Lượng Thủ Đạo (). Ông mất cả song thân lúc mới lên 10 tuổi, sau đó thì có vợ con, nhưng vì cảm nhận được lẽ vô thường của đời người nên ông Xuất Gia. Đầu tiên ông lên tu học Mật Giáo trên Cao Dã Sơn (, Kōyasan), rồi nghiên tầm giáo học của Thiên Thai TôngTỷ Duệ Sơn (, Hieizan), và ông tự Nhận Thức được rằng con đường mà có thể cứu rỗi kẻ Phàm Phu không gì hơn là nguyện sanh về cõi Tây Phương Tịnh Độ, cho nên ông bắt đầu chuyên tâm tu tập Pháp Môn Niệm Phật Tam Muội. Vào năm 1321, nhờ linh ứng báo mộng ở đền Thạch Thanh Thủy Bát Phan Cung (, Iwashimizuhachimangū) vùng Sơn Thành (, Yamashiro), ông thọ trì linh bảo và pháp phái của Dung Thông Niệm Phật Tông từ Lương Trấn (, Ryōchin) và đến trú trì Đại Niệm Phật Tự ở vùng Nhiếp Tân (, Settsu). Bên cạnh đó, một mặt ông chấp nhận sự quy y của Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (, Godaigo Tennō, tại vị 1318-1339), mặt khác thì cho ấn hành tranh Dung Thông Đại Duyên Khởi () và phân bố rộng rãi khắp toàn quốc. Ông đã giáo hóa hết thảy mọi người và Nỗ Lực làm cho Tông Môn hưng thạnh.