Lượng Luận
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Lượng, Phạm: Pramàịa. Lượng Luận: Chỉ cho sự nghiên cứu về lượng. Chữ Phạm Pramàịa có thể giải là pramà (chính tri) và ana (tác cụ), vì thế, Lượng Luận là phương pháp nhận biết chính xác và nhờ phương pháp ấy mà đạt được kết quả Nhận Thức đúng đắn. Sự nghiên cứu về Lượng được chia làm 2 lĩnh vực: Tri thức luận và Luận lí học. Tri thức luận là bàn thảo về nguồn gốc, chủng loại, tính chất và sự quan hệ hỗ tương của tri thức; còn Luận lí học thì nghiên cứu về hình thức, quá trình... của luận chứng. Trong các phái Triết học Ấn Độ thủa xưa, học phái Chính lí (Phạm: Nyàya) lấy việc nghiên cứu về Lượng làm chủ đề, chữ nyàya có nghĩa là lấy lượng làm đối tượng thám cứu. Tuy nhiên, sự nghiên cứu về Lượng không phải chỉ có trong học phái Chính lí, mà nó còn bao hàm trong hệ thống học thuyết của các học phái khác. Nhân Minh trong Phật giáo tương đương với Lượng Luận này. Trong Nhân Minh, Lượng Luận không những chỉ bao hàm trong Luận lí học mà còn gồm cả Tri thức luận. Trong Cổ Nhân Minh (trước thời ngài Trần na), Lượng Luận chỉ là 1 bộ phận của hệ thống Phật giáo; đến ngài Trần na đổi mới Cổ Nhân Minh, mở rộng thêm về ý nghĩa của Lượng Luận mà sáng lập Tân Nhân Minh. Trong bài kệ Qui kính của Tập Lượng Luận (Phạm: Pramàịa-samuccaya), tác phẩm tiêu biểu về Lượng Luận của mình, ngài Trần na đã tán Thán Đức Như Lai là Người thể hiện của Lượng (Phạm: Pramàịa-bhùta), thì đủ biết ý của ngài Trần na, đại khái là lấy Lượng Luận làm nghĩa căn bản của Phật giáo. Sau ngài Trần na, có các Đại luận sư như ngài Pháp xứng, Pháp Thượng kế thừa hệ thống học thuyết này. Đó là học phái Luận lí của Phật giáo. Khi nghiên cứu về Lượng Luận, có 3 yếu tố quan trọng nhất cần phải khảo xét là: Lượng giả, Sở Lượng và Lượng quả (cũng gọi Lượng tri). Trong 10 loại Lượng (Hiện Lượng, Tỉ lượng, Thánh Giáo Lượng, Thí Dụ lượng, Nghĩa chuẩn lượng, Vô thể lượng, Tùy sinh lượng, Tưởng định lượng, Truyền thừa lượng và Thân chấn lượng) của các giáo phái Ấn Độ, thì từ xưa Phật giáo đã dùng 4 lượng: Hiện Lượng, Tỉ lượng, Thánh Giáo Lượng và Thí Dụ lượng. Nhưng đến Tân Nhân Minh trong Phật giáo, vì nặng về phương diện lí luận nên chỉ dùng 2 lượng là Hiện Lượng và Tỉ lượng. Hiện Lượng biểu thị tri thức của sự nhận biết trực tiếp (tức trực giác), còn Tỉ lượng là khảo xét những suy lí hợp lí để trở thành tri thức diễn dịch làm then chốt cho luận cứ. Tân Nhân Minh trong Phật giáo đã lấy Hiện Lượng và Tỉ lượng này làm nền tảng mà phát triển pháp luận chứng của mình một cách có hệ thống và hoàn chỉnh để trở thành Tri thức luận và Luận lí học độc đáo trong tư tưởng Triết học Đông phương. Từ thời ngài Túc mục (Phạm: Akwapàda), Tổ khai sáng của Cổ Nhân Minh đến nay, trong những Kinh Điển nghiên cứu về Lượng Luận ở Ấn Độ, có nhiều bộ nổi tiếng như: Chính lí kinh (Phạm: Nyàya- sùtra) của ngài Túc mục, Chính lí kinh luận (Phạm:Nyàya-bhàwya) của ngài Bà thố da na (Phạm:Vàtsyàyana), Nhân Minh Chính Lí Môn Luận (Phạm:Nyàya-mukha) và Tập Lượng Luận của ngài Trần na, Padàrthadharmasaôgraha của ngài Prasastapàda, Nhân Minh nhập chính lí môn luận (Phạm: Nyàya-praveza) của ngài Thương Yết La Chủ (Phạm: Zaôkarasvàmin), Nyàyavàrttika của ngài Ưu để hữu đạt Ca La (Phạm: Uddyotakara), Thích Lượng Luận (Phạm:Pramàịa-varttika) của ngài Pháp xứng, Lượng Quyết Trạch luận (Phạm: Pramàịa-vinizcaya), Chính Lí Nhất Trích Luận (Phạm:Nyàya-bindu) cũng của ngài Pháp xứng v.v... [X. Màdhava: Sarvadarzanasaôgraha (English tr. by E.B. Cowell & A.E Gough, 1894; S.C.Vidyabhùsana: History of Indian Logic, 1921; A.B. Keith: Indian Logic and Atomism, 1921; Radhakrishnan: Indian Philosophy, vol.2, 1927; H.N. Randle: Indian Logic in the Early schools, 1930; Th. Stcherbatsky: Buddhist Logic, 1930-1932; S.C. Chaterjee:NyàyaTheory of Knowledge, 1950]. (xt. Nhân Minh).