Lương Biện

《良辨》 liáng biàn

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Rōben, 689-773: vị tăng của Hoa Nghiêm Tông Nhật Bản, sống dưới Thời Đại Nại Lương, vị trú trì đời thứ nhất của Đông Đại Tự (, Tōdai-ji), húy Lương Biện (), thông xưng là Căn Bổn Tăng Chánh (), Kim Thứu Bồ Tát (), Kim Chung Hành Giả (), xuất thân vùng Tương Mô (, Sagami, thuộc Kanagawa-ken [], cũng có thuyết cho là vùng Chí Hạ [], Cận Giang [, Ōmi] ?), họ Tất Bộ (, hay Bách Tế [] ?). Ông học Pháp Tướng với Nghĩa Uyên (, Giin), Hoa Nghiêm với Thẩm Tường (, Shinjō). Năm 733, ông kiến lập Kim Chung Tự (, Konshō-ji, tức Pháp Hoa Đường của Đông Đại Tự). Vào năm 740, ông cung thỉnh Thẩm Tường đến làm giảng sư tại chùa này, tận lực cống hiến cho Đông Đại Tự như sáng Lập Pháp Hoa Hội, v.v., và đến năm 752 thì làm chức Biệt Đương đầu tiên của chùa. Ông từng làm Thiền Sư Khán Bệnh cho Thánh Võ Thượng Hoàng (, Shōmu Jōkō) và đến năm 756 thì được tiến chức Đại Tăng Đô. Năm 760, ông cùng với nhóm Từ Huấn (, Jikun) đề cử cải cách về chế độ giai cấp trong tăng lữ. Năm 773, ông làm Tăng ChánhKhai Sơn Thạch Sơn Tự () ở vùng Cận Giang. Câu chuyện lúc nhỏ ông bị chim ưng bắt đi, sau lớn lên gặp lại được song thân, đã trở thành truyền thuyết nổi tiếng trong dân gian.