Lục Hành Quán
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
pháp quán chán hạ ưa thượng để đoạn trừ tư hoặc theo thứ lớp. ba cõi được chia làm 9 địa, gọi chung là thượng địa (cõi sắc và cõi vô sắc gồm 8 địa) và Hạ Địa (cõi dục, 1 địa). so với thượng địa thì Hạ Địa là thô, khổ, chướng, cho nên phải quán xét để nhàm chán; còn thượng địa là tĩnh, diệu, li, cho nên phải quán xét để mà ưa thích. nhờ sức ưa thượng địa, chán Hạ Địa này mà có thể lần lượt đoạn trừ các hoặc ở Hạ Địa, nên cũng gọi là hân yếm quán. theo Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, trước khi vào Kiến Đạo, Hành Giả có thể dùng Lục Hành Quán để đoạn 1 phần tư hoặc mà vào Kiến Đạo. theo luận câu xá quyển 24, ở giai đoạn vô gián đạo, thì Hành Giả duyên theo các pháp Hữu Lậu của tự địa (địa vị của chính mình ở hiện tại) và thứ đến của Hạ Địa mà quán 1 trong 3 hành tướng: thô, khổ, chướng; ở giai đoạn giải thoát đạo thì duyên theo các pháp Hữu Lậu của thượng địa mà quán 1 trong 3 hành tướng: tĩnh, diệu, li, cứ như thế thì có thể đoạn trừ được các hoặc của Hạ Địa. cộng chung thượng địa, Hạ Địa thì phải quán cả 6 hành tướng, cho nên gọi là Lục Hành Quán. ngoài ra, cứ theo thiền Ba La Mật Thứ Đệ Pháp Môn quyển 5, thì nhàm chán khổ, thô, chướng của Hạ Địa, ưa thích thắng, diệu, xuất của thượng địa, tu theo 6 pháp này, gọi là Lục Hành Quán. pháp quán là:
1. yếm thô quán: tư duy 5 Trần Cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc) của cõi dục thường sinh ra các điều xấu ác, đó là cái thô về nhân. còn thân này là vật hôi thối được tạo thành bởi 36 thứ như phân, nước tiểu v.v..., đó là cái thô về quả. Thô Nhân và thô quả đều phải chán ghét.
2. yếm khổ quán: tư duy các Tâm Sở khởi lên trong thân thường duyên theo Tham Dục, không lìa ra được, đó là cái khổ về nhân. còn Báo Thân ở cõi dục thường bị nhiều nỗi bức bách như đói khát, nóng rét, bệnh tật, dao gậy v.v..., đó là cái khổ về quả. khổ nhân, Khổ Quả đều phải chán ghét.
3. yếm chướng quán: tư duy Phiền Não Chướng ngăn che Chân Tính, đó là cái chướng về nhân. còn thân này là Chất Ngại, không được Tự Tại, đó là cái chướng về quả. chướng nhân, chướng quả đều phải chán ghét.
4. hân thắng quán: chán ghét cái khổ Tham Dục xấu xa, thấp hèn ở cõi dục, ưa thích cái vui Thù Thắng, cao thượng ở cõi Sơ Thiền.
5. hân diệu quán: chán ghét cái vui ham muốn 5 trần và tâm loạn động rong ruổi ở cõi dục, ưa thích cái vui thiền định, Tâm Định Bất Động ở cõi Sơ Thiền, đó là cái diệu về nhân. chán ghét thân hôi thối của cõi dục, ưa thích thân được Sơ Thiền, như bóng trong gương, tuy có Hình Sắc nhưng không Chất Ngại, đó là cái diệu về quả. nhân diệu, quả diệu đều nên ưa thích.
6. hân xuất quán: chán ghét Phiền Não trói buộc của cõi dục, ưa Thích Tâm được xuất li của Sơ Thiền, đó là sự xuất về nhân. chán ghét thân Chất Ngại mất tự do của cõi dục, ưa thích thân được 5 Thần Thông, Tự Tại vô ngại ở Sơ Thiền, đó là sự xuất về quả. nhân xuất, quả xuất đều nên ưa thích. nương vào sức ưa thượng địa, chán Hạ Địa này chỉ có thể đoạn trừ được cái hoặc ở 8 địa dưới, chứ không thể đoạn trừ các hoặc ở địa thứ 9 (hữu đính địa). muốn đoạn trừ các hoặc của hữu đính địa thì phải nhờ vào trí vô lậu quán Tứ Đế, vì thế lực của trí vô lậu rất mạnh, có khả năng Đối Trị các hoặc của tự địa và các hoặc của thượng địa. về thứ tự nhập quán của 6 pháp này là tùy theo ý của người Đoạn Hoặc mà Quyết Định, chứ không cần phải theo thứ tự đối ứng giữa yếm thô quán của vô gián đạo và hân tĩnh quán của giải thoát đạo. tông Duy Thức thì cho rằng, hiệu năng của Lục Hành Quán chỉ có thể áp phục Phiền Não, không cho chúng khởi Hiện Hành, chứ không thể tiêu diệt được Chủng Tử của Phiền Não. [x. luận câu xá q.23, 24, 28; luận đại tì Bà Sa q.64, 165; Thiên Thai Tứ Giáo Nghi Tập Chú q.trung, phần 4].
1. yếm thô quán: tư duy 5 Trần Cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc) của cõi dục thường sinh ra các điều xấu ác, đó là cái thô về nhân. còn thân này là vật hôi thối được tạo thành bởi 36 thứ như phân, nước tiểu v.v..., đó là cái thô về quả. Thô Nhân và thô quả đều phải chán ghét.
2. yếm khổ quán: tư duy các Tâm Sở khởi lên trong thân thường duyên theo Tham Dục, không lìa ra được, đó là cái khổ về nhân. còn Báo Thân ở cõi dục thường bị nhiều nỗi bức bách như đói khát, nóng rét, bệnh tật, dao gậy v.v..., đó là cái khổ về quả. khổ nhân, Khổ Quả đều phải chán ghét.
3. yếm chướng quán: tư duy Phiền Não Chướng ngăn che Chân Tính, đó là cái chướng về nhân. còn thân này là Chất Ngại, không được Tự Tại, đó là cái chướng về quả. chướng nhân, chướng quả đều phải chán ghét.
4. hân thắng quán: chán ghét cái khổ Tham Dục xấu xa, thấp hèn ở cõi dục, ưa thích cái vui Thù Thắng, cao thượng ở cõi Sơ Thiền.
5. hân diệu quán: chán ghét cái vui ham muốn 5 trần và tâm loạn động rong ruổi ở cõi dục, ưa thích cái vui thiền định, Tâm Định Bất Động ở cõi Sơ Thiền, đó là cái diệu về nhân. chán ghét thân hôi thối của cõi dục, ưa thích thân được Sơ Thiền, như bóng trong gương, tuy có Hình Sắc nhưng không Chất Ngại, đó là cái diệu về quả. nhân diệu, quả diệu đều nên ưa thích.
6. hân xuất quán: chán ghét Phiền Não trói buộc của cõi dục, ưa Thích Tâm được xuất li của Sơ Thiền, đó là sự xuất về nhân. chán ghét thân Chất Ngại mất tự do của cõi dục, ưa thích thân được 5 Thần Thông, Tự Tại vô ngại ở Sơ Thiền, đó là sự xuất về quả. nhân xuất, quả xuất đều nên ưa thích. nương vào sức ưa thượng địa, chán Hạ Địa này chỉ có thể đoạn trừ được cái hoặc ở 8 địa dưới, chứ không thể đoạn trừ các hoặc ở địa thứ 9 (hữu đính địa). muốn đoạn trừ các hoặc của hữu đính địa thì phải nhờ vào trí vô lậu quán Tứ Đế, vì thế lực của trí vô lậu rất mạnh, có khả năng Đối Trị các hoặc của tự địa và các hoặc của thượng địa. về thứ tự nhập quán của 6 pháp này là tùy theo ý của người Đoạn Hoặc mà Quyết Định, chứ không cần phải theo thứ tự đối ứng giữa yếm thô quán của vô gián đạo và hân tĩnh quán của giải thoát đạo. tông Duy Thức thì cho rằng, hiệu năng của Lục Hành Quán chỉ có thể áp phục Phiền Não, không cho chúng khởi Hiện Hành, chứ không thể tiêu diệt được Chủng Tử của Phiền Não. [x. luận câu xá q.23, 24, 28; luận đại tì Bà Sa q.64, 165; Thiên Thai Tứ Giáo Nghi Tập Chú q.trung, phần 4].