Lục Độ

《六度》 liù dù

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: ṣaḍ-pāramitā, ṣaṭ-pāramitā: tức Lục Ba La Mật (), Lục Ba La Mật Đa (), Lục Độ Ba La Mật (), còn gọi là Lục Độ Vô Cực (), Lục Đáo Bỉ Ngạn (). Ba La Mật (s, Pāli: pāramitā ) dịch là Độ (), nghĩa là Đáo Bỉ Ngạn (, đến bờ bên kia), tức là đạt thành, hoàn thành lý tưởng. Đây là 6 pháp tu hành thật tiễn để Thành Phật đạo của vị Bồ Tát, được giải thích rất rõ trong Phật Thuyết Bồ Tát Nội Tập Lục Ba La Mật Kinh (, Taishō No. 778), gồm: (1) Bố Thí Ba La Mật (s, Pāli: dāna-pāramitā ), còn gọi là Thí Ba La Mật (), Đàn Ba La Mật (), Đàn Na Ba La Mật (), Bố Thí Độ Vô Cực (); có 3 loại Bố ThíTài Thí (, Bố Thí về tiền tài, vật chất), Pháp Thí (, Bố Thí lời dạy, giáo lý để tu tập và đạt được chân lý) và Vô Úy Thí (, Bố Thí sự không sợ hãi, giúp cho mọi người an tâm), để Đối Trị với sự tham lam, keo kiệt và tiêu trừ sự bần cùng. (2) Trì Giới Ba La Mật (Sanskrit: śīla-pāramitā, Pāli: sīla-pāramitā ), còn gọi là Giới Ba La Mật (), Thi La Ba La Mật (), Giới Độ Vô Cực (); giữ gìn giới luật đã lãnh thọ, thường tự tỉnh thức, có thể Đối Trị Ác Nghiệp, khiến cho thân Tâm Thanh Tịnh. (3) Nhẫn Nhục Ba La Mật (Sanskrit: kṣānti-pāramitā, Pāli: khantī-pāramitā ), hay Nhẫn Ba La Mật (), Sàn Đề Ba La Mật (), Nhẫn Nhục Độ Vô Cực (); nghĩa là nhẫn nại, chịu đựng các sự bức hại, Đối Trị sân hận, nóng nảy, giúp cho tâm an trú. (4) Tinh Tấn Ba La Mật (Sanskrit: vīrya-pāramitā, Pāli: virya-pāramitā ), hay Tấn Ba La Mật (), Tỳ Lê Da Ba La Mật (), Tinh Tấn Độ Vô Cực (), Nỗ Lực tinh tấn tiến lên, bất khuất, không thối chí; giúp Đối Trị sự lười biếng, sinh trưởng các pháp lành. (5) Thiền Định Ba La Mật (Sanskrit: dhyāna-pāramitā, Pāli: jhāna-pāramitā ), hay Thiền Ba La Mật (), Thiền Na Ba La Mật (), Thiền Độ Vô Cực (); nghĩa là tu tập Thiền định, có thể Đối Trị sự loạn tâm, giúp cho tâm được an định. (6) Trí Tuệ Ba La Mật (Sanskrit: prajñā-pāramitā, Pāli: paññā-pāramitā ), hay Tuệ Ba La Mật (), Bát Nhã Ba La Mật (), Minh Độ Vô Cực (). Sáu pháp này được thuyết đầu tiên trong kinh Bát Nhã và một số Kinh Điển Đại Thừa khác và được xem như là hạnh lý tưởng của Phật Giáo Đại Thừa. Đặc biệt, căn bản của các hạnh này có trong Bát Nhã Ba La Mật, và hạnh từ bi vốn căn cứ trên cở sở của Bát Nhã là nội dung của Lục Độ. Trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận () có đoạn: “Lục Ba La Mật giả, tức tịnh Lục Căn dã; Hồ danh Ba La Mật, Hán danh Đạt Bỉ Ngạn, dĩ Lục Căn Thanh Tịnh, bất nhiễm Lục Trần, tức thị độ Phiền Não hà, chí Bồ Đề ngạn, cố danh Lục Ba La Mật (, Sáu Ba La Mật tức là làm trong sạch Sáu Căn; người Hồ [Ấn Độ] gọi là Ba La Mật, người Hán [Trung Quốc] gọi là đạt đến bờ bên kia; vì Sáu Căn trong sạch, không nhiễm Sáu Trần, tức là qua được sông Phiền Não, đến bờ Bồ Đề; cho nên có tên là Sáu Ba La Mật).” Hay như trong Duy Tâm Tập (, CBETA No. 1208) có đoạn: “Nhất Cú A Di Đà, vạn thiện đồng đăng; Nhất Cú A Di Đà, Lục Độ tề hành; Nhất Cú A Di Đà, tịnh uế trừng thanh; Nhất Cú A Di Đà, Đông Tây hợp tinh; Nhất Cú A Di Đà, bao quát cổ kim; Nhất Cú A Di Đà, hàm cái Càn Khôn; Nhất Cú A Di Đà, Chứng Nhập Vô Sanh (西, một câu A Di Đà, vạn thiện cùng lên; một câu A Di Đà, Lục Độ cùng hành; một câu A Di Đà, sạch nhớp lắng trong; một câu A Di Đà, Đông Tây hợp lại; một câu A Di Đà, bao quát cổ kim; một câu A Di Đà, trùm khắp Càn Khôn; một câu A Di Đà, chứng vào Vô Sanh).”