Luân Hồi

《輪回》 lún huí

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Saôsarà. Hán âm: Tăng sa lạc. Cũng gọi Sinh Tử, Sinh Tử Luân hồi, Sinh Tử tương tục, Luân Hồi Chuyển Sinh, Lưu Chuyển, Luân chuyển. Bánh xe quay vòng. Chúng Sinh do hoặc nghiệp (Tham Sân Si) chết trong kiếp này, rồi lại sinh vào kiếp khác, hệt như cái bánh xe, cứ quay vòng mãi mãi trong 3 cõi. Đây là 1 trong những giáo nghĩa chủ yếu của Bà La Môn Giáo ở Ấn Độ cổ đại, Phật giáo dùng theo và phát triển thêm thành giáo nghĩa Phật giáo. Nhưng có điểm khác nhau là: Bà La Môn Giáo cho rằng 4 giai cấp và tiện dân, trong quá trình Luân Hồi, đời đời kiếp kiếp vẫn y theo giai cấp ấy, không có gì thay đổi. Còn Phật giáo thì chủ trương rằng: Trước khi có Nghiệp Báo thì Chúng Sinh đều Bình Đẳng, nếu ở hạ đẳng mà kiếp này tu thiện đức, thì kiếp tới có thể sinh làm thượng đẳng, thậm chí có thể sinh lên cõi trời. Còn nếu kẻ ở thượng đẳng mà kiếp này làm ác, thì kiếp sau có thể sinh vào hạ đẳng, thậm chí sinh xuống Địa Ngục. Đây chính là Nguyên Nhân của sự bất Bình ĐẳngNhân Gian. Nếu muốn diệt cái Khổ Luân hồi trong 6 đường, thì trước hết phải tiêu trừ nhân tham, sân, si, vì đó chính là cái mầm mống khiến cho Chúng Sinh mãi mãi Lưu Chuyển trong 3 cõi. Nếu cắt đứt được Ngã ChấpTham Sân Si, thì cái Khổ Luân hồi cũng sẽ chấm dứt. [X. kinh Quá Khứ hiện tại Nhân Quả Q. 2.; Kinh Phân Biệt Nghiệp Báo Q.thượng; phẩm Quán vô lượng tâm trong kinh Quán Phật Tam Muội hải Q. 6.; kinh Pháp hoa Q. 1.; kinh Chính Pháp Niệm Xứ Q. 41.; kinh Niết Bàn Q. 16. (bản Nam); luận Đại trí độ Q. 30., Q. 77.; luận Thành Duy Thức Q. 4.].