Long Tượng
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Nguyên chỉ cho những con voi khỏe mạnh nhất trong loài voi. Từ ngữ này được dùng để ví dụ người có năng lực mạnh mẽ. Phẩm Bất tư nghị trong kinh Duy Ma quyển trung (Đại 14, 547 thượng), nói: Ví như bước đi của Long Tượng, con lừa không thể kham được. Trong Duy Ma Kinh Nghĩa Sớ quyển 4 của ngài Cát Tạng nói, gọi Long Tượng chẳng phải là 2 con vật, mà như ngựa hay thì gọi là long mã, voi giỏi thì gọi là Long Tượng. Theo kinh Niết Bàn quyển 2 (bản Bắc) thì Bồ Tát dứt trừ các kết lậu, gọi là Đại Long Tượng Bồ Tát Ma Ha tát. Kinh Hoa nghiêm quyển 7 (bản dịch cũ), đem Long Tượng ví dụ uy nghi của Bồ Tát mạnh mẽ tốt đẹp không gì sánh bằng. Ngoài ra, tiếng Phạm của Long (rồng) là Nàga, cũng dịch là Tượng (voi), ý nói long, tượng đều là loài vật có sức mạnh lớn trên biển, trên đất liền. Về sau, danh từ Long Tượng được dùng để chỉ cho vị Cao Tăng có đầy đủ uy đức và Thiền định. [X. kinh Long Tượng trong Trung a hàm Q. 29.; kinh Bi hoa Q. 5.; luận Đại trí độ Q. 3.].