Lỗ Đạt La

《魯達羅》 lǔ dá luó

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Rudra. Cũng gọi Rô nại la, Lao đạt la, Lục đà la. Hán dịch: Bạo ác, Hắc Thiên. Vị thần trông coi về mưa gió, sấm chớp trong Tín Ngưỡng Bà La Môn Giáo và Ấn Độ Giáo, tức là trời Đại Tự tại. Trong thời đại Lê Câu Phệ Đà, vị thần này đại biểu cho chúng trời bạo ngược, khi thần này giận dữ thì các Ma Oán hiện ra, đất nước hỗn loạn, bão táp sấm chớp nổi lên, giết hại người, súc vật và cây cỏ, cho nên được coi là thần phá hoại. Đến thời đại A Thát Bà Phệ Đà, thần này được tôn là Chủ Thần, chủ của loài Súc Sinh, là hình thức phôi thai của vị Đại thần Thấp bà sau này. Trong Kinh Điển Phật, vị thần này được gọi là Đại Tự Tại Thiên. Câu xá luận quang kí quyển 7 (Đại 41, 139 hạ), nói: Đại Tự Tại Thiên có 1.000 tên, Hiện Hành ở đời chỉ có 60 tên, trong đó có tên Lỗ Đạt La, nghĩa là thích uống máu, ăn thịt Chúng Sinh. Về Hình Tượng của vị thần này có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Lê Câu Phệ Đà, toàn thân thần này màu vàng sẫm, đầu tết bím tóc, tay cầm cung tên. Theo A Thát Bà Phệ Đà, bụng của thần này màu đen, lưng màu đỏ, có 1.000 mắt. Theo Dạ Nhu Phệ Đà thì cổ vị thần này màu xanh, sống ở trong núi, có 2 tính thiện và ác; khi nổi giận thì làm tổn hại người, súc vật và cây cỏ, nhưng lại có cả nghìn thứ dược thảo để chữa bệnh cho người và súc vật, nên được người sùng kính. Còn Áo Nghĩa Thư và Vãng thế thư thì cho rằng Hình Tượng của vị thần này có tới 11 loại. Ngoài ra, vị thần này còn có các tên hiệu như: Súc chủ, Đại Thiên, Y xá na, Hoang thần... [X. kinh Đại nhật Q. 2.; kinh Thủ hộ Đại Thiên Quốc Độ Q.hạ; luận Câu xá Q. 7.]. (xt. Đại Tự Tại Thiên, Thấp Bà Thiên).