Linh

《鈴》 líng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

I. Linh. Phạm: Ghaịỉà. Loại chuông đẩu nhỏ bằng đồng, hình cái chén, đường kính khoảng 10 phân tây, dùng để đánh trong các thời khóa tụng niệm. Thiền Tông dùng loại Pháp Khí này đầu tiên. Còn Mật giáo gọi nó là Kim uyển.
II. Linh. Cũng gọi Kim Cương Linh, Kim Linh. Pháp Khí bằng đồng, hình cái chuông, bên trong có quả lắc, trên có cán cầm. Trong Mật giáo, khi tu pháp, lắc linh để đánh thức các vị tôn hoặc làm cho các Ngài Hoan Hỉ. Linh có 3 nghĩa: Thức tỉnh, Hoan Hỉ, và Thuyết Pháp. Lắc linh để cúng dường chư tôn, gọi là Chấn Linh. Lại vì cán linh là dùng một phần chày Kim Cương, cho nên gọi là Kim Cương Linh. Tùy theo hình dáng của cán cầm mà linh được chia làm 5 loại: Linh 1 chĩa, linh 3 chĩa, linh 5 chĩa, linh báu, linh tháp (linh Suất Đô Bà)... Thông thường 5 loại linh và 5 loại chày Kim Cương được đặt ở những vị trí cố định trên Đại Đàn tu pháp. Số 5 là tượng trưng cho 5 trí 5 Phật, Linh Tiêu biểu cho Thuyết Pháp. Chày Kim Cương là hình Tam Muội da của Kim Cương tát đóa, vị tôn thứ nhất, 1 trong 37 vị tôn; còn Kim Cương Linh là hình Tam Muội da của Bồ Tát Kim Cương Linh, là vị tôn cuối cùng.
III. Linh. Loại chuông nhỏ, bên trong có con lắc, được treo trên màn báu hoặc Trang Nghiêm trên tàu mái trước điện Phật, mỗi khi gió thổi làm lay động thì linh phát ra âm thanh như trỗi nhạc. Kinh Di Lặc thướng sinh (Đại 14, 419 trung), nói: Bấy giờ, trăm nghìn vị Phạm vương ở 10 phương, mỗi vị đều cầm một vật báu nhiệm mầu của Phạm Thiên, lấy đó làm linh báu, treo trên bảo trướng.