Liễu Nhân
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Đối lại: Sinh Nhân. Tiếng dùng trong Nhân Minh. Trong Tác Pháp 3 phần của Nhân Minh, Liễu Nhân thuộc về phần Nhân, là phần hiểu thấu được chủ trương của người lập luận, là 1 trong 6 Nhân. Chủ trương của người lập luận có thể làm phát sinh sự hiểu biết của người vấn nạn (địch luận), gọi là Sinh Nhân, còn trí tuệ của người vấn nạn có thể lĩnh hội, liễu giải được chủ trương của người lập luận, thì gọi là Liễu Nhân. Trong phần Nhân phải có đầy đủ hai điều kiện này. Vì thế, đứng về phương diện người lập luận, Sinh Nhân có 3 thứ:
1. Trí Sinh Nhân: Trí tuệ của người lập luận.
2. Nghĩa Sinh Nhân: Nghĩa lí do trí tuệ ấy sinh ra.
3. Ngôn Sinh Nhân: Chủ trương ngôn luận để trình bày nghĩa lí ấy. Đứng về phương diện người vấn nạn (địch luận), đối với Liễu Nhân, dĩ nhiên cũng phải như thế: Muốn hiểu rõ lập luận của người kia, thì cần phải có trí lực, trí lực ấy hiểu được nghĩa lí, mà biết được nghĩa lí là do ngôn luận. Do đó, Liễu Nhân cũng có 3 thứ:
1. Ngôn Liễu Nhân: Hiểu rõ ngôn luận của người lập luận.
2. Nghĩa Liễu Nhân: Hiểu rõ nghĩa lí của ngôn luận ấy.
3. Trí Liễu Nhân: Trí tuệ để hiểu được nghĩa lí ấy. Đứng về cả 2 phương diện người lập luận và địch luận mà nói chung lại thì gồm có 6 Nhân. Nhưng thực ra không phải có 6 Nhân sai khác nhau, vì ngôn luận của người lập gọi là Ngôn Sinh Nhân, mà địch luận hiểu được là Ngôn Liễu Nhân; nghĩa lí của ngôn luận gọi là Nghĩa Sinh Nhân, mà địch luận hiểu được nghĩa ấy là Nghĩa Liễu Nhân; trí tuệ của người nêu ra nghĩa ấy là Trí Sinh Nhân, mà địch luận hiểu được Tông Nghĩa của trí ấy là Trí Liễu Nhân. Một bên làm cho phát sinh ra, một bên tiếp thu lấy, vì thế mà có sáu. Tóm lại, đứng trên lập trường Nhân Minh, chỉ cần Ngôn Sinh Nhân và Trí Liễu Nhân là đủ. Vì Ngôn Sinh Nhân trực tiếp nói rõ ý tưởng của mình cho đối phương, còn Trí Liễu Nhân của đối phương hiểu được Ngôn Sinh Nhân ấy, thế là đủ. [X. Nhân Minh Nhập Chính Lí Luận Ngộ Tha môn thiển thích; Đông phương luận lí học (Nhất hanh)]. (xt. Lục Nhân).
1. Trí Sinh Nhân: Trí tuệ của người lập luận.
2. Nghĩa Sinh Nhân: Nghĩa lí do trí tuệ ấy sinh ra.
3. Ngôn Sinh Nhân: Chủ trương ngôn luận để trình bày nghĩa lí ấy. Đứng về phương diện người vấn nạn (địch luận), đối với Liễu Nhân, dĩ nhiên cũng phải như thế: Muốn hiểu rõ lập luận của người kia, thì cần phải có trí lực, trí lực ấy hiểu được nghĩa lí, mà biết được nghĩa lí là do ngôn luận. Do đó, Liễu Nhân cũng có 3 thứ:
1. Ngôn Liễu Nhân: Hiểu rõ ngôn luận của người lập luận.
2. Nghĩa Liễu Nhân: Hiểu rõ nghĩa lí của ngôn luận ấy.
3. Trí Liễu Nhân: Trí tuệ để hiểu được nghĩa lí ấy. Đứng về cả 2 phương diện người lập luận và địch luận mà nói chung lại thì gồm có 6 Nhân. Nhưng thực ra không phải có 6 Nhân sai khác nhau, vì ngôn luận của người lập gọi là Ngôn Sinh Nhân, mà địch luận hiểu được là Ngôn Liễu Nhân; nghĩa lí của ngôn luận gọi là Nghĩa Sinh Nhân, mà địch luận hiểu được nghĩa ấy là Nghĩa Liễu Nhân; trí tuệ của người nêu ra nghĩa ấy là Trí Sinh Nhân, mà địch luận hiểu được Tông Nghĩa của trí ấy là Trí Liễu Nhân. Một bên làm cho phát sinh ra, một bên tiếp thu lấy, vì thế mà có sáu. Tóm lại, đứng trên lập trường Nhân Minh, chỉ cần Ngôn Sinh Nhân và Trí Liễu Nhân là đủ. Vì Ngôn Sinh Nhân trực tiếp nói rõ ý tưởng của mình cho đối phương, còn Trí Liễu Nhân của đối phương hiểu được Ngôn Sinh Nhân ấy, thế là đủ. [X. Nhân Minh Nhập Chính Lí Luận Ngộ Tha môn thiển thích; Đông phương luận lí học (Nhất hanh)]. (xt. Lục Nhân).