Lại Trá Hoà La

《賴吒和羅》 lài zhā hé luó

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Ràwỉrapàla. Pàli: Raỉỉhapàla. Cũng gọi La tra ba la, Lại tra bạt đàn. Hán dịch: Hộ quốc, Đại tịnh chí. Vị Đệ Tử của đức Phật, người nước Cư lâu (Phạm:Kura) ở phía Tây bắc Trung Ấn Độ, là con của nhà phú hào Thâu lô tra thôn (Phạm: Thullakoỉỉhita). Khi đức Phật đến nước này Hóa Đạo, Lại tra hòa la xin theo Phật Xuất Gia, sau khi giác ngộ, trở về nước. Cha mẹ Ngài lập mưu dùng gái đẹp dụ dỗ Ngài Hoàn Tục, trái lại cô gái ấy nghe lời răn dạy của Ngài phát tâm qui Phật. Về sau, Ngài còn độ cho vua Câu lao bà (Phạm:Koravga). Sau này Bồ Tát Mã Minh ở thành Hoa thị (Phạm: Pàỉiliputra) đem sự tích của Ngài soạn thành vở kịch Lại tra hòa la, rồi đích thân trình diễn, rất được dân chúng ưa thích và khen ngợi, khiến cho 500 vị Vương tử và nhiều thị dân bỏ tục Xuất Gia, do đó vở kịch bị nhà vua nghiêm cấm.[X. kinh Trung a hàm Q. 31.; kinh Soạn tập bách duyên Q. 9.; luật Tứ phần Q. 3.; Phó Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện Q. 5.].