Lạc Thuyết Vô Ngại Biện
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Pratibhàna-pratisaôvid. Cũng gọi Biện Vô Ngại Giải, Biện vô ngại trí, Nhạo thuyết vô ngại trí. Tùy theo những điều các Chúng Sinh ưa thích muốn nghe mà nói pháp và biện luận 1 cách lưu loát không vấp váp, là 1 trong 4 Vô ngại biện. Nói theo tâm, gọi là Nhạo thuyết vô ngại trí; nói theo miệng thì gọi là Nhạo thuyết vô ngại biện. Nhạo thuyết có 2 nghĩa:
1. Giải thuyết theo tâm vui của người nói: Bồ Tát được pháp Thù Thắng, vui vẻ nói cho mọi người nghe, như cha mẹ có điều gì hay, muốn nói cho các con biết.
2. Giải thuyết theo ý muốn của người nghe: Bồ Tát biết Chúng Sinh muốn nghe mình nói pháp thì tùy thuận mà nói cho họ. Đại Thừa Nghĩa Chương quyển 11 (Đại 44, 691 hạ) chép: Lời nói hợp với ý muốn của mọi người, gọi là nhạo thuyết. Phẩm Phân Biệt Công Đức trong kinhPháp hoa quyển 5 (Đại 9, 44 thượng) nói: Lại có 1 Thế Giới có Vi Trần số đại Bồ tátđược nhạo thuyết vô ngại Biện Tài.[X. luận Câu xá Q. 27.; Pháp Hoa Nghĩa Sớ Q. 2. (Cát Tạng)]. (xt. Tứ Vô Ngại Giải).
1. Giải thuyết theo tâm vui của người nói: Bồ Tát được pháp Thù Thắng, vui vẻ nói cho mọi người nghe, như cha mẹ có điều gì hay, muốn nói cho các con biết.
2. Giải thuyết theo ý muốn của người nghe: Bồ Tát biết Chúng Sinh muốn nghe mình nói pháp thì tùy thuận mà nói cho họ. Đại Thừa Nghĩa Chương quyển 11 (Đại 44, 691 hạ) chép: Lời nói hợp với ý muốn của mọi người, gọi là nhạo thuyết. Phẩm Phân Biệt Công Đức trong kinhPháp hoa quyển 5 (Đại 9, 44 thượng) nói: Lại có 1 Thế Giới có Vi Trần số đại Bồ tátđược nhạo thuyết vô ngại Biện Tài.[X. luận Câu xá Q. 27.; Pháp Hoa Nghĩa Sớ Q. 2. (Cát Tạng)]. (xt. Tứ Vô Ngại Giải).