Hương

《香》 xiāng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm,Pàli:Gandha. Dịch âm: Càn đà. Cảnh Sở Duyên của tị căn (mũi ngửi), cũng là đối tượng Phân Biệt của tị thức(thức mũi), 1 trong 5 trần, 1 trong 6 cảnh, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới, 1 trong 75 pháp của tông Câu xá, 1 trong 100 pháp của tông Duy Thức. Luận Phẩm loại túc quyển 1 và luận Pháp Uẩn túc quyển 10, chia hương làm 3 loại: Hảo hương, ố hương, Bình Đẳng hương. Còn luận Đại tì Bà Sa quyển 13 và luận Câu xá quyển 1, thì chia hương làm 4 loại: Hảo hương, ố hương, Bình Đẳng hương, bất Bình Đẳng hương. Theo quan điểm của luận Đại tì Bà Sa quyển 13, thì hương mang lại cho người ta cái Cảm Giác khoan khoái (hảo hương), không khoan khoái (ố hương) hoặc chẳng phải khoan khoái chẳng phải không khoan khoái (Bình Đẳng hương); hoặc hương có thể bồi bổ hay gây hại cho 5 cảm quan của người ta, cho đến Nguyên Nhân phát sinh ra hương là do Phúc Nghiệp hay Tội Nghiệp, hoặc do thế lực của Tứ Đại, hoặc do sức của 4 loại hương này cân bằng hay không cân bằng mà nó có thể bồi bổ hoặc gây tổn hại cho Thân Thể. Do nhựa cây hoặc gỗ có mùi thơm được chế thành hương và tùy loại hương liệu khác nhau mà có: Chiên Đàn hương, Trầm thủy hương, Đinh tử hương, Uất kim hương, Long Não Hương. Năm loại hương này Mật giáo thường sử dụng khi lập đàn. Ngoài ra, còn có Huân lục hương, Già la hương, Chân bàn hương, An Tức Hương, v.v... Trong Phật giáo hương thường được dùng trong Pháp Hội cúng dường hoặc để ví dụ Công Đức của Phật Pháp như: Giới hương, văn hương, thí hương, hoặc giới hương, Định Hương, tuệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương, v.v... [X. phẩm Pháp sư Công Đức trong kinh Pháp hoa Q. 6.; kinh Đà La Ni tập Q. 12.; kinh Hoa nghiêm Q. 49. (bản dịch cũ); kinh Hoa nghiêm Q. 67. (bản dịch mới)].