Hoằng Trí Chánh Giác

《宏智正覺》 hóng zhì zhèng jué

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Wanshi Shōgaku, 1091-1157: vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Thấp Châu (, Tỉnh Sơn Tây), họ là Lý (). Năm lên 12 tuổi, ông theo Xuất Gia với Bổn Tông () ở Tịnh Minh Tự (), đến năm 14 tuổi thì thọ Cụ Túc Giới với Trí Quỳnh ()Từ Vân Tự () vùng Tấn Châu (, Lâm Phần, Tỉnh Sơn Tây). Vào năm 18 tuổi, ông có chí muốn đi tham vấn chư tôn túc khắp nơi, nên trước tiên ông lên Hương Sơn Tự () ở Nhữ Châu (, Huyện Lâm An, Tỉnh Hà Nam), viếng thăm Khô Mộc Pháp Thành (), sau đó ông đến Tham Học với Tử Thuần () ở Đơn Hà Sơn (, Tỉnh Hà Nam). Ông theo hầu Tử Thuần khi vị này lui về ẩn cư ở Đại Thừa Sơn () thuộc Đường Châu (, Bí Dương, Tỉnh Hà Nam), cũng như khi theo thầy ông đến Đại Hồng Sơn () ở Tùy Châu (, Tỉnh Hồ Bắc). Đến năm 31 tuổi, vào năm thứ 3 (1121) niên hiệu Tuyên Hòa (), ông được cử làm chức Thủ Tòa (), rồi năm sau thì đến trú trì Phổ Chiếu Tự ()Tứ Châu (, Tỉnh An Huy) và kế thừa dòng pháp của Tử Thuần. Vào năm đầu (1127) niên hiệu Kiến Viêm (), ông chuyển đến sống tại Thái Bình Tự () thuộc vùng Thư Châu (, Tỉnh An Huy), rồi Vân Cư Sơn (, Tỉnh Giang Tây), và thỉnh thoảng ông có khai mở Đạo Tràng thuyết giảng tại Trường Lô Sơn (, Tỉnh Giang Tô). Sau đó, ông được cung thỉnh đến trú trì Thiên Đồng Sơn (, Tỉnh Triết Giang). Lúc bấy giờ trên Thiên Đồng Sơn rất nghèo túng, nhà cửa chật hẹp, nhưng kể từ khi ông lên trú trì về sau thì thóc lúa đầy kho, ngôi Già Lam cũng được hoàn chỉnh Trang Nghiêm, đặc biệt ngôi Đại Pháp Đường được chỉnh trang đúng với Thanh Quy Thiền Môn. Ông đã sống nơi đây trong vòng 30 năm, chuyên tâm nhiếp hóa đồ chúng, được xem như là vị tổ thời Trung Hưng của Thiên Đồng Sơn. Tông Phong đương thời bị hủ bại do vì gặp thời loạn lạc cuối nhà Tống, nên ông đả kích điều này và cử xướng Tông Phong chánh truyền. Chính hoạt động của ông đã được mọi người công nhận và hình thức tọa Thiền cũng như mặc chiếu là chỉ tiêu Thiền Phong của ông, cho nên người ta thường gọi đó là Mặc Chiếu Thiền () hay Hoằng Trí Thiền (). Bên cạnh đó, văn từ của ông rất xảo diệu, sánh ngang hàng với Tuyết Đậu (); ông cùng với Đại Huệ Tông Cảo () của Lâm Tế Tông được gọi là Nhị Đại Cam Lồ Môn. Vào ngày mồng 7 tháng 10 năm thứ 27 (1157) niên hiệu Thiệu Hưng (), ông Thị Tịch, hưởng thọ 67 tuổi đời và 56 Hạ Lạp. Vua Cao Tông ban tặng cho ông Thụy Hiệu Hoằng Trí Thiền Sư (). Một số trước tác ông để lại như Hoằng Trí Giác Hòa Thượng Ngữ Yếu () 1 quyển, Hoằng Trí Giác Thiền Sư Ngữ Lục () 4 quyển, Hoằng Trí Quảng Lục () 9 quyển; ngoài ra còn có Thiên Đồng Bách Tắc Tụng Cổ () rất nổi tiếng.