Hoặc

《惑》 huò

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Mê lầm không hiểu. Chỉ cho trạng thái Thân Tâm Não loạn, hoặc chỉ chung tất cả Phiền Não làm chướng ngại Tâm Giác ngộ. Luận Thành Duy Thức quyển 8 (Đại 31, 43 trung), nói: Sinh Tử nối nhau là do hoặc, nghiệp và khổ. Phiền Não phát nghiệp, nhuận sinh gọi là Hoặc . Bởi vì Chúng Sinh mê lầm Sự Lí, Phát Khởi nghiệp Hữu Lậu, tăng trưởng sức mạnh cho Hữu ở vị lai, làm nhân cho sự Sinh Tử tiếp nối, gọi là Hoặc. Hoặc gần giống với nghĩa Vô Minh . Do Phiền Não kết hợp với nghiệp tướng làm nhân chung cho Quả Báo Luân Hồi nên Hoặc và Nghiệp thường đi đôi với nhau. Trong 12 chi Duyên Khởi, Vô Minh là Hoặc phát nghiệp, gọi là Đẳng Khởi nhân; 2 chi Ái, Thủ là Hoặc nhuận sinh, gọi là Sinh Khởi Nhân. Do sự tu hành có những giai đoạn khác nhau nên Hoặc có 2 loại là Kiến Hoặc và Tu hoặc. Nếu Mê Lí Tứ Đế thì gọi là Kiến Hoặc, cũng gọi là Mê Lí hoặc; còn mê tất cả Sự Lí thì gọi là Tu hoặc, cũng gọi là Mê Sự hoặc. Trong 10 Tùy miên thì 5 món: Tham, sân, si, mạn, nghi là Tu hoặc; còn 5 món: Thân kiến, biên kiến, Tà Kiến, Kiến Thủ Kiến và giới cấm thủ kiến thì thuộc về Kiến Hoặc. Trong đó, 3 món tham, sân, mạn của Tu hoặc chỉ duyên riêng từng việc mà sinh, không thể duyên khắp các việc trong 3 đời, nên gọi là Tự tướng hoặc. Còn 5 Kiến Hoặc, nghi và Vô Minh thì duyên nhiều việc mà sinh, có khả năng trói buộc khắp các việc trong 3 đời, cho nên gọi là Cộng Tướng Hoặc. Chương Nhất Thừa trong kinh Thắng man chia Hoặc làm 5 loại: Kiến nhất xứ trụ địa, Dục Ái trụ địa, Sắc ái trụ địa, Hữu Ái Trụ ĐịaVô Minh trụ địa. Tức Kiến Hoặc là Kiến nhất xứ trụ địa, còn Tu hoặc là Dục Ái trụ địa, Sắc ái trụ địa và Hữu Ái Trụ Địa, đồng thời lập riêng Vô Minh làm Vô Minh trụ địa. So với các trụ địa nói trên, Vô Minh trụ địa có sức mạnh nhất. Phẩm Bồ Đề trong kinh Vô thượng y quyển thượng cho rằng, Vô Minh trụ địa là Hoặc sinh duyên, các Hành Do Vô Minh trụ địa sinh ra là Hoặc Sinh Nhân, ở đây cũng chia Hoặc làm 2 loại là Phát nghiệp và Nhuận sinh. Ngoài ra, tông Thiên thai lập 3 Hoặc: Kiến Tư HoặcPhiền Não giới nội (chỉ cho 3 cõi Dục, Sắc, Vô sắc) làm chướng ngại lí Không . Trần sa hoặc là hằng sa Tập Khí của giới nội và ngoại (ngoài 3 cõi) làm chướng ngại lí Giả , Vô Minh hoặc là Hoặc giới ngoại làm Mê Lí Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa Đế . Phổ thông đều cho Hoặc và Phiền Não là đồng nghĩa, mà Hoặc thì có Nghĩa Không hiểu, mờ tối, vì thế cũng có thể được xem là tên khác của Vô Minh. [X. luận Đại tì Bà Sa Q. 55.; luận Câu xá Q. 9., Q. 20., Q. 21.; luận Thành Duy Thức Q. 6.; luận Thuận chính lí Q. 53.; Đại Thừa Nghĩa Chương Q. 5. phần đầu; Thắng Man Bảo Quật Q.trung phần cuối; Ma Ha Chỉ Quán Q. 4. phần trên]. (xt. Phiền Não).