Hình Sắc

《形色》 xíng sè

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

I. Hình Sắc. Phạm:Saôsthàna-rùpa. Đối lại với Hiển Sắc. Sắc có hình tướng, tức chỉ cho những Sắc Pháp Chất Ngại, khi tiếp xúc có thể biết được. Hình Sắc có 8 loại:
1. Trường (Phạm:Dìrgha, dài).
2. Đoản (Phạm:Hrasva, ngắn).
3. Phương (Phạm: Caturazra, vuông).
4. Viên (Phạm:Vftta, tròn).
5. Cao (Phạm: Unnata, cao).
6. Hạ (Phạm:Avanata, thấp).
7. Chính (Phạm:Zàta, ngay thẳng).
8. Bất chính (Phạm:Vizàta, không ngay thẳng). Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ cho rằng cực vi của những Hình Sắc này đều khác nhau và đều có thể tính riêng biệt. Nhưng tông Duy Thức thì cho đây chẳng phải thực sắc mà sắc giả. [X. luận Câu xá Q. 1.; luận Du Già sư địa Q. 1.; luận Đại tì Bà Sa Q. 13., Q. 75.; Câu xá luận quang kí Q. 1.; Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q. 2. phần đầu].
II. Hình Sắc. Hình thể và Sắc Tướng. Tức chỉ cho tướng mạo và mầu sắc của người và súc vật. [X. phẩm Tín Giải trong kinh Pháp hoa Q. 2.; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; Kinh Phân Biệt Thiện Ác Báo Ứng Q.hạ].