Hải Ấn Tam Muội
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Sàgaramudrà-samàdhi. Cũng gọi Hải Ấn Định, Hải Ấn Tam Ma Địa, Đại Hải Ấn Tam Muội. Tên của tổng định nói trong kinh Hoa nghiêm. Trước khi đức Phật nói pháp, Ngài thường Nhập Định để tư duy về pháp nghĩa và xem xét Căn Cơ. Như khi nói Pháp hoa thì Ngài vào định Vô lượng nghĩa xứ; khi thuyết Bát Nhã, Ngài vào định Đẳng trì vương; khi nói Niết Bàn thì Ngài vào định Bất Động. Trong 7 chỗ 8 hội của kinh Hoa nghiêm, mỗi mỗi hội đều có định riêng, tức hội thứ nhất, Phật vào định Như Lai Tạng, cho đến hội thứ 8, Ngài vào định Sư Tử Phấn Tấn. Định Hải ấn này tức là Định Chung của cả 7 chỗ 8 hội. Hải Ấn là lấy dụ đặt tên, tức là hình ảnh biển cả sóng lặng gió yên, nước trong phẳng lặng, muôn tượng sum la đều in trên mặt biển, ví dụ cho Tâm Phật sóng thức Không Sinh, lắng yên trong sáng, hết thảy các pháp trong 3 đời đều hiện rõ ràng. Nội dung kinh Hoa nghiêm tức đã căn cứ vào vạn hữu hiện rõ như thực ở trong định này mà được nói ra. [X. phẩm Hiền thủ Bồ Tát trong kinh Hoa nghiêm Q. 6. (bản dịch cũ); phẩm Hư Không Tạng Bồ Tát trong kinh Đại Phương Quảng đại tập Q. 15.; Hoa Nghiêm Kinh khổng mục chương Q. 4.; Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí Q,4; Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương Q. 1.].