Dược Sư Lưu Li Quang Như Lai Bản Nguyện Công Đức Kinh
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm : Bhagavàn-bhaiwajyaguruvaidùryaprabhasya pùrvapraịidhànavizewa-vistara. Có 1 quyển, do ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường. Gọi tắt: Dược Sư Như Lai Bản Nguyện Công Đức kinh, Dược Sư Bản Nguyện Công Đức kinh, Dược Sư Bản Nguyện kinh, Dược Sư kinh. Thu vào Đại chính tạng tập 14. Kinh này có năm loại bản Hán dịch (có thuyết nói bốn loại), xếp theo thứ tự thời gian được dịch như sau :
1. Bản do ngài Bạch Thi Lê Mật Đa La dịch vào đời Đông Tấn (317- 322).
2. Bản do ngài Tuệ giản dịch vào đời Lưu Tống (475).
3. Bản do ngài Đạt Ma Cấp Đa dịch vào đời Tùy (615).
4. Bản do ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường (650).
5. Bản do ngài Nghĩa Tịnh dịch vào đời Đường (707). Trong năm bản dịch trên đây, các bản 1,2,3 nhấn mạnh về phương diện Công Đức của Phật Dược Sư, gọi là Kinh Dược Sư tùy nguyện. Bản dịch của ngài Nghĩa Tịnh gọi là kinh Dược Sư lưu li quang Thất Phật Bản Nguyện Công Đức, hoặc kinh Thất Phật Dược Sư, trình bày rõ về Bản Nguyện và Đà La Ni của bảy đức Phật Dược Sư. Bản dịch của ngài Huyền Trang được lưu hành phổ biến nhất, lấy tư tưởng Lợi Ích hiện thế và vãng sinh Tịnh Độ làm đặc chất. Tại Tây tạng, kinh Dược Sư có hai bản dịch, trong đó, bản tương đương với kinh Dược Sư lưu li quang Như Lai Bản Nguyện Công Đức đề là: Bcom-ldam #das smangyi bla vaidùrya#i hod-kyi síon-gyi smon-lam-gyi khyad-par rgyas-pa. Còn bản dịch tương đương với bản dịch của ngài Nghĩa Tịnh thì đề là: De-bshingzegs-pa bdun-gyi síon-gyi smon-lamgyi khya-par rgyas-pa. Về sách chú sớ kinh này thì có: Dược Sư Bản Nguyện kinh nghĩa sớ 3 quyển của ngài Thực quán, Dược Sư Bản Nguyện kinh sớ của các ngài Khuy Cơ, Tĩnh Mại, Thần Thái, Độn Luân, Cảnh hưng v.v... của mỗi vị đều có 1 quyển, Dược Sư Bản Nguyện kinh cổ tích 2 quyển của Thái Hiền v.v... [X. Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 3., Q. 7.; Pháp Kinh lục Q. 1., Q. 4.; Xuất Tam Tạng kí tập Q. 5.; Tân tập nghi kinh ngụy soạn tạp lục; Chí Nguyên Pháp Bảo Khám Đồng Tổng Lục Q. 2.].
1. Bản do ngài Bạch Thi Lê Mật Đa La dịch vào đời Đông Tấn (317- 322).
2. Bản do ngài Tuệ giản dịch vào đời Lưu Tống (475).
3. Bản do ngài Đạt Ma Cấp Đa dịch vào đời Tùy (615).
4. Bản do ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường (650).
5. Bản do ngài Nghĩa Tịnh dịch vào đời Đường (707). Trong năm bản dịch trên đây, các bản 1,2,3 nhấn mạnh về phương diện Công Đức của Phật Dược Sư, gọi là Kinh Dược Sư tùy nguyện. Bản dịch của ngài Nghĩa Tịnh gọi là kinh Dược Sư lưu li quang Thất Phật Bản Nguyện Công Đức, hoặc kinh Thất Phật Dược Sư, trình bày rõ về Bản Nguyện và Đà La Ni của bảy đức Phật Dược Sư. Bản dịch của ngài Huyền Trang được lưu hành phổ biến nhất, lấy tư tưởng Lợi Ích hiện thế và vãng sinh Tịnh Độ làm đặc chất. Tại Tây tạng, kinh Dược Sư có hai bản dịch, trong đó, bản tương đương với kinh Dược Sư lưu li quang Như Lai Bản Nguyện Công Đức đề là: Bcom-ldam #das smangyi bla vaidùrya#i hod-kyi síon-gyi smon-lam-gyi khyad-par rgyas-pa. Còn bản dịch tương đương với bản dịch của ngài Nghĩa Tịnh thì đề là: De-bshingzegs-pa bdun-gyi síon-gyi smon-lamgyi khya-par rgyas-pa. Về sách chú sớ kinh này thì có: Dược Sư Bản Nguyện kinh nghĩa sớ 3 quyển của ngài Thực quán, Dược Sư Bản Nguyện kinh sớ của các ngài Khuy Cơ, Tĩnh Mại, Thần Thái, Độn Luân, Cảnh hưng v.v... của mỗi vị đều có 1 quyển, Dược Sư Bản Nguyện kinh cổ tích 2 quyển của Thái Hiền v.v... [X. Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 3., Q. 7.; Pháp Kinh lục Q. 1., Q. 4.; Xuất Tam Tạng kí tập Q. 5.; Tân tập nghi kinh ngụy soạn tạp lục; Chí Nguyên Pháp Bảo Khám Đồng Tổng Lục Q. 2.].