Đáo Bỉ Ngạn
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Pàramità. Dịch âm: Ba La Mật đa, Ba La Mật, Ba ra nhĩ đa. Cũng gọi Độ Vô Cực, Độ, Sự Cứu Cánh. Từ bờ Sinh Tử bên này đến bờ giải thoát Niết Bàn bên kia. Về từ ngữ này, các kinh luận có cách giải thích khác nhau. Di Lặc Bồ Tát sở vấn kinh luận quyển 8 nói, từ ngữ này có hai nghĩa: Đã đến và sẽ đến, và chủ trương Phật là người đã đến, Bồ Tát là người sẽ đến. Còn Nhiếp Đại Thừa Luận Thích quyển 9 (bản dịch đời Lương) thì cho rằng Đáo bỉ Đào Uyên Minh ngạn có ba nghĩa:
1. Tùy theo chỗ tu hành mà đạt đến quả rốt ráo tột cùng.
2. Vào Chân Như là cùng tột, như trăm sông đổ dồn về biển cả.
3. Được quả rốt ráo không gì hơn. Kinh Giải thâm mật quyển 4 thì nói, Đáo Bỉ Ngạn có năm Nhân Duyên: Không tham đắm, không luyến tiếc, không tội lỗi, không Phân Biệt, chính Hồi Hướng. Các bộ kinh Bát Nhã thì nêu sáu Ba La Mật: Bố Thí, trì giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tiến, thiền định và trí tuệ. Phẩm Li Thế Gian trong kinh Hoa nghiêm, phẩm Tối Tịnh Địa Đà La Ni trong kinh Kim Quang Minh tối thắng vương thì nêu 10 Ba La Mật, tức là ngoài 6 pháp kể trên còn thêm: Trí, nguyện, Thần Lực, pháp, hay là Phương Tiện, nguyện, lực và trí. Ngoài ra, còn có thuyết 4 Ba La Mật: Thường, lạc, ngã, tịnh. [X. chương Điên Đảo chân thực trong kinh Thắng man; kinh Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hành Pháp; kinh Hiền Kiếp Q. 3. đến Q. 6.; luận Đại trí độ Q. 52.; luận Du Già sư địa Q. 49.]. (xt. Ba La Mật).
1. Tùy theo chỗ tu hành mà đạt đến quả rốt ráo tột cùng.
2. Vào Chân Như là cùng tột, như trăm sông đổ dồn về biển cả.
3. Được quả rốt ráo không gì hơn. Kinh Giải thâm mật quyển 4 thì nói, Đáo Bỉ Ngạn có năm Nhân Duyên: Không tham đắm, không luyến tiếc, không tội lỗi, không Phân Biệt, chính Hồi Hướng. Các bộ kinh Bát Nhã thì nêu sáu Ba La Mật: Bố Thí, trì giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tiến, thiền định và trí tuệ. Phẩm Li Thế Gian trong kinh Hoa nghiêm, phẩm Tối Tịnh Địa Đà La Ni trong kinh Kim Quang Minh tối thắng vương thì nêu 10 Ba La Mật, tức là ngoài 6 pháp kể trên còn thêm: Trí, nguyện, Thần Lực, pháp, hay là Phương Tiện, nguyện, lực và trí. Ngoài ra, còn có thuyết 4 Ba La Mật: Thường, lạc, ngã, tịnh. [X. chương Điên Đảo chân thực trong kinh Thắng man; kinh Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hành Pháp; kinh Hiền Kiếp Q. 3. đến Q. 6.; luận Đại trí độ Q. 52.; luận Du Già sư địa Q. 49.]. (xt. Ba La Mật).