Diệu
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Trong Kinh Điển Phật giáo thường nói đến loài chim. Hoặc có thuyết cho rằng chim là Hóa Thân của Phật, có công dụng diễn nói Phật Pháp, cho nên được coi là vật linh thiêng. Loài chim mà Phật giáo đặc biệt đề cập là các loài chim trong thần thoại Ấn Độ, như chim Ca lâu la (Phạm:garuđa, ăn thịt rồng, giữ gìn Phật Pháp, lông cánh mầu vàng, nên cũng gọi là Kim Sí Điểu), Ca Lăng Tần Già (Phạm: kalaviíka), Câu sí la (Phạm: kokila), chim Cộng mệnh (Phạm:jìvajìva), Câu luân xà (Phạm: krauĩca), Ca lan đà (Phạm:kalandaka), Ca tần xà la (Phạm: kapiĩjala), Ca chiên lân đà (Phạm: kàcilindika), Khổng tước (Phạm:mayùra), Sa la lân đề (Phạm:sàrasakàraịđa), Giá tra ca (Phạm:càtaka), Anh vũ (Phạm:zuka) v.v... Tên Khổng tước được thấy trong kinh Khổng Tước Minh Vương và kinh Phật Mẫu đại Khổng Tước Minh Vương. Ngoài ra, trong các Kinh Điển cũng có chép Khổng tước chú pháp, Khổng tước tu pháp v.v... còn Anh vũ thì là Hóa Thân của Phật. Những chuyện cổ và Thí Dụ khác có liên quan đến loài Động Vật này thì thấy rải rác trong các kinh lục như: kinh Tạp Bảo Tạng, Tam Bảo Cảm Ứng lục quyển thượng, kinh Kim tạng, kinh Chính Pháp niệm, kinh Tăng Già La Sát, kinh Anh vũ gián vương, kinh Bách dụ, kinh Bản sinh v.v... Chẳng hạn như bàn chân của ngỗng chúa (Phạm: haôsaràja) tương tự như tướng mạn võng (một trong 32 tướng của đức Phật, tức là khoảng giữa những ngón tay và ngón chân có màng) nên được dùng để ví dụ với tay Phật. Mắt ngỗng chúa ví dụ cho con mắt có thể Phân Biệt các pháp đúng sai; tiếng của không điểu có thể Phân Biệt rõ diệu lí Chân Không, dụ cho người giảng Thuyết Đạo lí Không; dấu chân chim ví dụ cho những vật không có thực thể; hai cánh chim ví dụ cho thiền định và trí tuệ v.v... Ngoài ra, chim còn được dùng làm đề tài hội họa đã tạo thành những kiệt tác và chiếm một địa vị rất quan trọng trong nền mĩ thuật Phật giáo.