Di Thê La Thành

《彌梯羅城》 mí tī luó chéng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Di thê la, Phạm; Pàli: Mìthilà. Cũng gọi Di tát la thành, Di hi la thành, Nhĩ si la thành, Di di thành, Vô di thành. Hán dịch: Lượng thành, Phân trất thành, Kim đới thành. Tòa thành cổ ở Trung Ấn Độ, là thủ đô của nước Tì đề ha (Phạm: Videha), thuộc chủng tộc Bạt kì (Phạm: Vfji). Nước này có khu rừng Đại Thiên nại là nơi mà ngày xưa đức Phật đã nói về truyện tích tiền thân của Đại Thiên vương. Cứ theo kinh Di Lặc Hạ Sinh chép, thì nước này có đại tạng Bát trù (Phạm:Pàịđuka) là một trong Bốn Đại tạng. Từ giữa thế kỉ XIV đến giữa thế kỉ XVI vùng này do Vương triều Bà La Môn thống trị và theo nhà khảo cổ học người Anh là ông Cunningham thì thành Di thê la ở vào khu vực Janakpur ngày nay. Tì đề ha còn gọi Vĩ đề ha, Ti đà đề. Hữu Bộ tì nại da dược sự quyển 15 chép, ở đời Quá Khứ, khi đức Phật làm vua nước Vĩ đề ha, tâm Ngài rất từ bi. Kinh Du Hành trong Trường a hàm quyển 2 chép, tương truyền việc A xà thế nước Ma yết đà đánh dân tộc Bạt kì nước Vĩ đề ha không thắng, bèn xây thành Hoa thị để phòng ngự. Lại nữa, mẹ đẻ của vua A xà thế là người thuộc tộc Vĩ đề ha cho nên có tên là Vi đề hi (Pàli: Vedehì). [X. Trung a hàm Q. 14. kinh Đại Thiên nại lâm; kinh Phương quảng đại Trang Nghiêm Q. 1. phẩm Thắng tộc; kinh Lục Độ tập Q. 8.; kinh Phật Mẫu đại Khổng Tước Minh Vương Q.trung, A. Cunningham: Ancient Geography of India].