Di Mạn Sai Học Phái
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Di mạn sai, Phạm: Mìmàôsà, có nghĩa khảo sát, nghiên cứu. Một trong sáu phái triết học của Ấn Độ. Phái này coi trọng tế tự, chủ trương âm thanh là Thường Trụ. Cũng gọi Di mâu sa học phái, Di tức già học phái, Nhĩ Mạn Sai học phái. Ở Ấn Độ, những người nghiên cứu Kinh Điển Phệ Đà của Bà La Môn đời xưa được chia làm hai phái:
1. Phái căn cứ vào phần Nghi quĩ, Thích Nghĩa trong nửa trước của Phạm Thư, lấy việc tế tự làm trọng tâm, tức là phái lấy phẩm Phệ Đà hành tế làm đối tượng nghiên cứu.
2. Phái căn cứ vào Áo Nghĩa Thư trong nửa sau của Phạm Thư, mục đích chủ yếu là khảo sát về Phạm, tức là phái lấy phẩm Phệ Đà trí làm đối tượng nghiên cứu.Hai phái trên đây đều gọi là Di Mạn Sai Học Phái, phái trước còn gọi là Nghiệp Di Mạn Sai Học Phái (Phạm: Karmamìmàôsà), Tiền Di Mạn Sai Học Phái (Phạm: Pùrva- mìmàôsa); phái sau cũng gọi là Phệ Đàn Đa Học Phái (Phạm:Vedànta), Trí Di Mạn Sai Học Phái (Phạm: Jĩànamìmàôsa), Hậu Di Mạn Sai Học Phái (Phạm: Uttara-mìmàôsà). Quan hệ giữa hai phái rất mật thiết, bởi vì cả hai đều coi Phệ Đà Thiên Khải (zruti) là quyền uy tối cao, đại biểu cho tư tưởng Bà La Môn chính thống. Phái Di mạn sai nói ở đây tức là phái trước, do Kì mễ ni (Phạm: Jaimini) sáng lập vào khoảng thế kỉ thứ II, III trước Tây lịch. Kinh luận Phật giáo gọi phái này là Thanh hiển luận, Tòng duyên hiển liễu tông, chủ trương tiếng nói của Phệ Đà là tuyệt đối Thường Trụ và lấy pháp (dharma) tế tự trong Phệ Đà làm Tông Chỉ. Thánh Điển của phái này được biên soạn xong vào khoảng thế kỉ II (có thuyết nói thế kỉ V, VI) Tây lịch gồm 12 chương 60 tiết 2742 câu. Tương truyền kinh này là tác phẩm của Kì mễ ni gọi là kinh Tiền di mạn sai hoặc kinh Di mạn sai. Khoảng thế kỉ V, VI Tây lịch, các bản chú thích kinh Di mạn sai và kinh Phệ đàn đa lục tục xuất hiện, vì trong thời kì này, phái Di mạn sai và phái Phệ đàn đa hợp tác với nhau, bổ sung những chỗ thiếu sót của nhau để nêu cao tư tưởng chính thống Bà La Môn. Cho đến thế kỉ thứ VI, nhằm bài bác thuyết Vô Ngã của Phật giáo, Tát bạt la tư mã mễ (Phạm: Zabarasvàmin) chú thích kinh Di mạn sai, tức là sách Tát bạt la chú (Phạm:Zabara-bhàwya) là tác phẩm kinh Di mạn sai xưa nhất và có uy tín nhất hiện còn đến nay. Vào thế kỉ thứ VII, Cưu ma lị la (Phạm: Kumàrila, Đồng trung tôn), Bà La bạt già la (Phạm:Prabhàkara) v.v... nối nhau xuất hiện, lại giải thích Tát bạt la chú, áp dụng thuyết của các học phái khác như Nhân Minh, Lượng Luận v.v... để phu Diễn Thuyết của phái mình và Đề Xướng nhiều nghĩa mới.Cưu ma lị la ra sức công kích Phật giáo, cổ xúy tư tưởng Bà La Môn, môn đệ của ông này sau lập phái riêng gọi là Ba đạt phái (Phạm:Bhàỉỉi). Còn phái Bà La bạt già la thì gọi là Cổ lỗ phái (Phạm:Guru) phồn thịnh một thời, sau dần dần suy vi. Từ đó trở đi phái Di mạn sai và phái Phệ đàn đa li khai, thậm chí đối chọi lẫn nhau. Nhưng phái Cưu ma lị la đến đời sau vẫn còn sức sống, và những sách chú thích của phái này đến nay cũng vẫn còn. (X. luận Thành Duy Thức Q. 1.; luận Kim Cương châm; Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q. 1. phần cuối, Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương Q. 1. phần đầu]. (xt. Thanh Luận).
1. Phái căn cứ vào phần Nghi quĩ, Thích Nghĩa trong nửa trước của Phạm Thư, lấy việc tế tự làm trọng tâm, tức là phái lấy phẩm Phệ Đà hành tế làm đối tượng nghiên cứu.
2. Phái căn cứ vào Áo Nghĩa Thư trong nửa sau của Phạm Thư, mục đích chủ yếu là khảo sát về Phạm, tức là phái lấy phẩm Phệ Đà trí làm đối tượng nghiên cứu.Hai phái trên đây đều gọi là Di Mạn Sai Học Phái, phái trước còn gọi là Nghiệp Di Mạn Sai Học Phái (Phạm: Karmamìmàôsà), Tiền Di Mạn Sai Học Phái (Phạm: Pùrva- mìmàôsa); phái sau cũng gọi là Phệ Đàn Đa Học Phái (Phạm:Vedànta), Trí Di Mạn Sai Học Phái (Phạm: Jĩànamìmàôsa), Hậu Di Mạn Sai Học Phái (Phạm: Uttara-mìmàôsà). Quan hệ giữa hai phái rất mật thiết, bởi vì cả hai đều coi Phệ Đà Thiên Khải (zruti) là quyền uy tối cao, đại biểu cho tư tưởng Bà La Môn chính thống. Phái Di mạn sai nói ở đây tức là phái trước, do Kì mễ ni (Phạm: Jaimini) sáng lập vào khoảng thế kỉ thứ II, III trước Tây lịch. Kinh luận Phật giáo gọi phái này là Thanh hiển luận, Tòng duyên hiển liễu tông, chủ trương tiếng nói của Phệ Đà là tuyệt đối Thường Trụ và lấy pháp (dharma) tế tự trong Phệ Đà làm Tông Chỉ. Thánh Điển của phái này được biên soạn xong vào khoảng thế kỉ II (có thuyết nói thế kỉ V, VI) Tây lịch gồm 12 chương 60 tiết 2742 câu. Tương truyền kinh này là tác phẩm của Kì mễ ni gọi là kinh Tiền di mạn sai hoặc kinh Di mạn sai. Khoảng thế kỉ V, VI Tây lịch, các bản chú thích kinh Di mạn sai và kinh Phệ đàn đa lục tục xuất hiện, vì trong thời kì này, phái Di mạn sai và phái Phệ đàn đa hợp tác với nhau, bổ sung những chỗ thiếu sót của nhau để nêu cao tư tưởng chính thống Bà La Môn. Cho đến thế kỉ thứ VI, nhằm bài bác thuyết Vô Ngã của Phật giáo, Tát bạt la tư mã mễ (Phạm: Zabarasvàmin) chú thích kinh Di mạn sai, tức là sách Tát bạt la chú (Phạm:Zabara-bhàwya) là tác phẩm kinh Di mạn sai xưa nhất và có uy tín nhất hiện còn đến nay. Vào thế kỉ thứ VII, Cưu ma lị la (Phạm: Kumàrila, Đồng trung tôn), Bà La bạt già la (Phạm:Prabhàkara) v.v... nối nhau xuất hiện, lại giải thích Tát bạt la chú, áp dụng thuyết của các học phái khác như Nhân Minh, Lượng Luận v.v... để phu Diễn Thuyết của phái mình và Đề Xướng nhiều nghĩa mới.Cưu ma lị la ra sức công kích Phật giáo, cổ xúy tư tưởng Bà La Môn, môn đệ của ông này sau lập phái riêng gọi là Ba đạt phái (Phạm:Bhàỉỉi). Còn phái Bà La bạt già la thì gọi là Cổ lỗ phái (Phạm:Guru) phồn thịnh một thời, sau dần dần suy vi. Từ đó trở đi phái Di mạn sai và phái Phệ đàn đa li khai, thậm chí đối chọi lẫn nhau. Nhưng phái Cưu ma lị la đến đời sau vẫn còn sức sống, và những sách chú thích của phái này đến nay cũng vẫn còn. (X. luận Thành Duy Thức Q. 1.; luận Kim Cương châm; Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q. 1. phần cuối, Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương Q. 1. phần đầu]. (xt. Thanh Luận).