Danh Ngôn
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Chỉ cho Danh Tự, Danh Mục và ngôn cú, Ngôn Thuyết. Kinh Đại Thừa mật nghiêm quyển hạ (Đại 16, 739 trung), nói: Cái lọ, chiếc áo, xe cộ v.v... do Danh Ngôn Phân Biệt, tuy có Sắc Tướng nhưng không có thể tính. Các Sắc Pháp trong Thế Gian chỉ có tướng, dựa vào tướng mà đặt tên, tên này không có thật. Do đó, có thể thấy Danh Ngôn là giả đặt chứ không có thật. Luận Đại Thừa khởi tín nói: do duyên cảnh giới dẫn sinh ra sáu thứ tướng, trong đó, Kế Danh Tự tướng tức là tướng Danh Ngôn Phân Biệt từ nơi vọng chấp mà giả đặt ra. Về chủng loại của danh thì luận Đại tì Bà Sa có thuyết hai loại, bốn loại, sáu loại, luận Du Già sư địa quyển 64 nêu ra năm loại, luận Thích Ma Ha Diễn quyển 2 nêu hai loại. Còn về Ngôn Thuyết thì Trung Luận quyển 4, và luận Đại Thừa khởi tín cho rằng, Ngôn Thuyết là tục đế có khả năng giải bày rõ nghĩa lí của Chân Như đệ nhất nghĩa. Về chủng loại của Ngôn Thuyết thì luận Đại trí độ quyển 1 nêu ba loại: Tà Kiến, Mạn và Danh Tự, trong đó, Tà Kiến và Mạn là Bất Tịnh, Danh Tự là tịnh. Luận Ma Ha Diễn quyển 2 nêu năm loại: Tướng Ngôn Thuyết, Mộng Ngôn Thuyết, Vọng chấp Ngôn Thuyết, Vô thủy Ngôn Thuyết, Như nghĩa Ngôn Thuyết, trong đó, bốn loại trước là nói hư dối, loại cuối cùng là nói như thực. Tóm lại, Danh Ngôn có thể giải bày rõ chân nghĩa của Bản Thể Chân Như, nhưng nó không có thực thể, mà chỉ có Phương Tiện tạm thời được giả đặt ra để giúp việc giáo hóa mà thôi. Cho nên, nếu cứ bám chặt lấy Danh Ngôn thì dễ rơi vào nguy cơ bỏ nghĩa cầu văn, bỏ gốc theo ngọn, khó hiểu rõ được lí Trung Đạo thực tướng. [X. kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật đa Q. 4.; kinh Nhập lăng già Q. 4.; luận A Tì Đạt Ma tập dị môn túc; luận Thuận chính lí Q. 14.; luận Thành Duy Thức Q. 2.; luận Nhiếp Đại Thừa Q. 6.].