Cung Hoa

《供華》 gōng huá

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Tức dâng các loại hương hoa cúng dường Phật, Bồ Tát. Hoặc chỉ cho hoa trưng bày trước bàn thờ Phật, trước tôn tượng, cho nên cũng gọi là Phật hoa. Cũng có khi chỉ cái đài cao đặt bày vật cúng. Các thứ hoa nhân tạo, có thể cúng dường được lâu gọi là thường hoa. Tại Ấn Độ, hoa phần nhiều được rải ra trước bàn Phật và Bồ Tát, hoặc làm thành vòng hoa trang sức để cúng dường. Về sự cúng dường hương hoa thì thấy khắp trong các kinh. Kinh Bách duyên quyển 6 chép, dùng hoa Ba La Nại kết thành tràng, và hái hoa rải ở trước Phật. Cứ theo kinh Đà La Ni tập quyển 6 chép, hoa và cây cảnh dùng để cúng dường thì có: cành liễu, lá trắc, cành trúc, các loại cành hoa, quả v.v... Kinh Tô Tất Địa yết la quyển thượng phẩm Cúng dường hoa nêu ra hai thứ vật cúng là cây mật và cây thường bàn ....., trong đó, cây mật (một loại cây thơm) vì màu sắc rất giống hoa sen xanh, và cây thường bàn thì xanh tươi quanh năm, nên cả hai thường được dùng thay cho hoa cúng. Nhưng các loại hoa có mùi hôi, hoa của cây có gai, hoa có vị đắng, cay, hoặc hoa dại v.v... thì không được dùng làm hoa cúng. Trong Mật giáo, tùy theo Phật bộ, Liên Hoa Bộ, Kim Cương Bộ, hoặc do phép tu khác nhau mà thông thường hoa cúng cũng không giống nhau. Cứ theo truyền thuyết, nếu cúng dường hoa tươi trong một thời gian dài mà không héo, thì đó là dấu hiệu cho thấy Tội Chướng đã diệt trừ, nguyện cầu được Thành Tựu. Tại Nhật bản, hàng năm cứ vào tháng 3 âm lịch là cử Hành Pháp hội tu tập Pháp Hoa Bát Giảng và ngâm vịnh Thi Ca, gọi là hội cúng hoa. Những trai hội cúng hoa loại này được cử hành thì có: hội Vạn hoa của chùa Đông đại, hội Cúng hoa Kết Duyên của chùa Lục Ba La Mật. [X. kinh Đại phẩm Bát Nhã Q. 21.].