Công Đức Tụ

《功德聚》 gōng dé jù

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Hàm ý là Tích Tụ Công Đức.
I. Công Đức Tụ. Tiếng tôn xưng đức Phật. Chư Phật tu hành trải qua nhiều kiếp, đã chứa nhóm vô lượng Công Đức mà chứng được quả Phật, vì Thế Tôn xưng là Công Đức Tụ. Kinh Niết Bàn quyển 32 (Đại 12, 559 hạ), nói: Công Đức Vô Lượng của Như Lai, con nay không thể nói cho hết. Công Đức Tụ cũng được dùng để chỉ Phật A di đà. Tán A Di Đà Phật Kệ (Đại 47, 421 hạ): Đây là rừng báu chứa Công Đức, con một lòng chắp tay Kính Lễ. Tức ý nói Phật A di đà đã do tích chứa Công Đức của bốn mươi tám Bản Nguyện mà chứng được quả Phật .
II. Công Đức Tụ.Tên của tháp. Có nghĩa là hết thảy Công Đức của chư Phật đều được tích chứa trong tháp của các ngài. Tính linh tập quyển 9 chép, tháp cũng gọi là Công Đức Tụ, cờ được gọi là Dữ nguyện ấn. Nói Công Đức Tụ tức là do muôn đức của Phật Tì Lô Giá Na tập hợp thành - còn Dữ nguyện ấn là thân Tam Muội của Ngài Bảo sinh Địa Tạng.
III. Công Đức Tụ. Cờ (chàng). Cờ là hình Tam Muội da của Bồ Tát Địa tạng, vì cờ có Công Đức của ngọc báu như ý, cho nên cũng gọi là Công Đức Tụ.
IV. Công Đức Tụ. Là câu thứ sáu trong chín câu nói trong kinh Đại nhật. (xt. Cửu Cú Đối Vấn).