Chơn Tánh, Chân Tánh

《眞性》 zhēn xìng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có hai nghĩa. (1) Thiên tánh, bản tánh. Như trong Trang Tử (), thiên Mã Đề (), có đoạn: “Mã, đề khả dĩ tiễn sương tuyết, mao khả dĩ ngự phong hàn, hột thảo ẩm thủy, kiều túc nhi lục, thử mã chi chơn tánh dã (, ngựa, móng của nó có thể đạp lên sương tuyết, lông có thể chống gió lạnh, ăn cỏ uống nước, chân cong mà đi trên bộ, đây là bản tánh của ngựa vậy).” Hay trong bài thơ Thái Tang () của Lý Sảng Viễn (, ?-?) nhà Đường có câu: “Hà dĩ biến chơn tánh, u hoàng tuyết trung lục (, lấy gì đổi thiên tánh, bụi tre trong tuyết xanh).” (2) Bản tánh Chân Thật, không sai lầm, không thay đổi. Phật Giáo chủ trương con người chúng ta có đủ chơn tánh và chơn tánh của chư Phật, Bồ Tát vốn không khác nhau gì. Trong Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh (, Taishō Vol. 48, No. 2008), Phẩm Bát Nhã (), có đoạn: “Nhất Thiết Bát Nhã trí, giai tùng tự tánh nhi sanh, bất tùng ngoại nhập, mạc thố dụng ý, danh vi chơn tánh tự dụng (, hết thảy trí tuệ Bát Nhã, đều từ tự tánh mà sanh, không từ ngoài vào, chớ lầm dụng ý, gọi là chơn tánh tự dụng).” Hay trong Bát Nhã Tâm Kinh Chú Giảng (, Tục Tạng Kinh Vol. 26, No. 568) cũng có câu: “Chơn tánh bổn lai vô nhiễm, cố bất cấu Bất Tịnh (, chơn tánh xưa nay không nhiễm, nên không nhớp không sạch).” Thiền Sư Thuần Chân (, ?-1101), đời thứ 12 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, có bài kệ Thị Đệ Tử Bổn Tịch () rằng: “Chơn tánh thường vô tánh, hà tằng hữu sanh diệt, thân thị sanh diệt pháp, Pháp Tánh vị tằng diệt (, chơn tánh thường không tánh, đâu từng có sanh diệt, thân là sanh diệt pháp, Pháp Tánh chưa từng diệt).”

Chơn Tánh, Chân Tánh. Từ Điển Phật Học Vibudra. https://www.vibudra.org/glossary/thuatngu/chon-tanh-chan-tanh. Truy cập 06/04/2026.