Chính Hành

《正行》 zhèng xíng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Samyak-pratipatti, Pàli: Sammà-paỉipatti. Chỉ việc làm không quanh co xiên xẹo. Tức là Hành Vi chính đáng, lấy lời đức Phật dạy làm tiêu chuẩn, nền tảng, trái lại với tà hành - hoặc đối lại với Hành Vi tạp nhạp, phụ trợ mà nói là Chính Hành. Lại Hành Vi do Nguyên Nhân trực tiếp mà thành, gọi là Chính Hành - Hành Vi do Nguyên Nhân gián tiếp mà thành gọi là trợ hành .. Cứ theo kinh Bát Chính Đạo chép, thì thấy không đúng, nghĩ không đúng, nói không đúng, sửa không đúng, cầu không đúng, làm không đúng, ý không đúng và Định Không đúng, gọi là tám tà hành - trái lại, thấy đúng, nghĩ đúng cho đến ý đúng, định đúng thì gọi là tám Chính Hành. Cứ theo Trung a hàm quyển 38 kinh Anh vũ và luận Đại trí độ quyển 48 chép, thì tám Chính Đạo trái lại với tà hành của Ngoại Đạo Phàm Phu là thuộc Chính Hành. Các nhà có nêu ra mấy thuyết về Chính Hành. Như luận Du Già sư địa quyển 64 nêu ba Chính Hành: đối với Phật bảo, phải tu cúng dường thừa sự, đối với Pháp Bảo, phải tu Phương Tiện Du Già, đối với Tăng bảo, phải tu cùng nhận của pháp. Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận quyển 12 lấy sáu Ba La Mật làm Chính Hành, tức là Bố Thí, giữ giới, nhịn nhục, Tinh Tiến, thiền định và Bát Nhã. Luận Biện trung biên quyển hạ thì đứng về mặt tướng của mười hạnh Ba La Mật mà chia làm sáu thứ Chính Hành, tức là tối thắng, tác ý, tùy pháp, lìa hai bên, Sai Biệt, vô Sai Biệt. Luận Trung biên Phân Biệt quyển hạ thì đứng về mặt Chính Hành tác ý kể trên mà chia ra mười thứ Chính Hành, đó là: Viết chép, cúng dường, cho người khác, nếu người khác đọc tụng thì lắng nghe, tự mình đọc, tự hiểu ý và nghĩa của câu văn đúng như lí, thuyết trình ý nghĩa của câu văn đúng Như Đạo lý, chính tâm mà nghe đọc tụng, suy nghĩ đúng như lý không, đã vào ý thì không quên mất cho nên tu tập. Pháp hoa kinh huyền tán quyển 8 gọi các việc Thụ Trì, đọc, tụng, giải nói, viết chép, cúng dường, nói trong kinh Pháp hoa quyển 4 phẩm Pháp sư, là sáu loại Pháp sư Chính Hành. Trong Quán Kinh Sớ Tán Thiện nghĩa, ngài Thiện Đạo thuộc tông Tịnh Độ, bảo tu tập năm thứ Hành Nghiệp cầu vãng sinh cõi Tịnh Độ của Phật A di đà là năm Chính Hành. Đó là:
1. Đọc tụng, đọc tụng các Thánh Điển của Tịnh Độ.
2. Quán sát, Quán Tưởng các tướng tốt đẹp của Phật A di đà.
3. Lễ Bái, lễ lạy Phật A di đà.
4. Xưng danh, xưng niệm Danh Hiệu của Phật A di đà.
5. Tán Thán cúng dàng, khen ngợi Công Đức của Phật A di đà. Trái lại, nếu lấy chư Phật và Bồ Tát khác ngoài Phật A di đà làm đối tượng để Lễ Bái, Quán Tưởng, thì gọi là tạp hành. Trong năm Chính Hành, thì Xưng danh là đặc biệt phù hợp với Bản Nguyện của Phật A di đà, cho nên gọi là Chính Định Nghiệp, còn bốn mục kia thì gọi là Trợ nghiệp, Trợ hành. Nếu ngoài việc tu Chuyên Niệm Phật (xưng danh) ra, kiêm cả 4 hành kia nữa, thì gọi là Trợ chính kiêm hành. Lại đứng về Phương Tiện Chính nhân của sự vãng sinh Tịnh Độ mà nói là Chính Hành. Ngoài ra, trong Mật giáo, những Hành Nghiệp tu sau Gia hành, thì gọi là Chính Hành. [X. kinh Chuyển Pháp Luân - kinh Ban nê hoàn Q.hạ - kinh Đại Phương Đẳng đại tập Q. 30. - kinh Giải thâm mật Q. 3. - luận Đại trí độ Q. 56., Q. 87. - Biện Trung Biên Luận Thuật Kí Q.trung - Pháp Uyển Châu Lâm Q. 17.]. (xt. Chính Nhân Chính Hành).