Cảnh Giới Trụ Y Chỉ Trụ

《境界住依止住》 jìng jiè zhù yī zhǐ zhù

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Còn gọi là Cảnh giới xứ y chỉ xứ.
I. Cảnh Giới Trụ Y Chỉ Trụ. Nơi đức Phật đến giáo hoá thì gọi là Cảnh giới trụ, chẳng hạn những nơi như thành vua, làng, ấp trong mười sáu nước lớn; còn những nơi mà đức Phật cư trú thì gọi là Y chỉ trụ, chẳng hạn những chỗ như vườn Cấp Cô Độc, Ngài cùng ở chung với chúng tăng. Thuyết này được sư Chân Đế đời Lương đặt ra trước nhất, rồi sau các nhà giải thích Kinh Điển Tịnh Độ giáo thu dụng. [X. A Di Đà Kinh Sớ (Khuy Cơ); Vu Lan Bồn Kinh sớ Q.hạ (Tông mật); Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ Q. 2. (Thiện Đạo)].
II. Cảnh Giới Trụ Y Chỉ Trụ. Cảnh giới do Tâm Chứng ngộ gọi là Cảnh giới trụ. Có thể chia thành sáu thứ: Phạm xứ trụ, Thiên xứ trụ, Thánh xứ trụ, Thọ mệnh trụ, Uy nghi trụ và Đại xứ trụ. Còn nơi mà thân thực của mình đang ở thì gọi là Y chỉ trụ. [X. Quán Kinh Sớ Tự phần nghĩa khải định kí Q. 1.] CẢNH GIỚI TƯỚNG Một trong Tam Tế. Thuyết của luận Đại Thừa khởi tín. Cũng gọi Hiện tướng, Cảnh tướng, Hiện Thức. Theo thuyết của luận Khởi tín, khi Vô Minh căn bản khởi động Vô Minh mà hiện ra các vọng Pháp Lưu huyển Sinh Diệt thì các tướng dáng của các vọng pháp ấy có hai loại là: Tam Tế và Lục thô, trong đó, tướng dáng thứ ba của Tam Tế tức là Cảnh giới tướng. Tướng này duyên theo tướng thứ hai trong Tam TếNăng Kiến Tướng mà hiện ra tất cả cảnh giới. Giống như tấm gương sáng ánh hiện các sắc tượng, thì gương là Năng Kiến Tướng, còn các sắc tượng là Cảnh giới tướng. Hoặc như Tâm Thức nương vào giấc ngủ mà có cảnh chiêm bao, thì Tâm ThứcNăng Kiến Tướng, còn chiêm bao là Cảnh giới tướng. Bởi thế nên biết, khi Năng Kiến Tướng khởi động, thì cùng lúc các cảnh giới Hư Vọng cũng hiển hiện. Cho nên, nếu lìa tướng năng kiến thì cũng không có cảnh giới sở kiến. Tóm lại, Năng Kiến TướngTác Dụng Năng Duyên, còn Cảnh giới tướng thì là cảnh giới Sở Duyên. Tướng này đồng nghĩa với Tướng phần do Tự thể phần trong ba phần của thức A lại da mà Tông Pháp tướng chủ trương. Nó cũng tương đương với Hiện sắc bất tương ứng nhiễm trong sáu nhiễm. (xt. Tam Tế Lục Thô). CẢNH HÀNH QUẢ Tức là Cảnh, Hành, Quả nói chung lại. Cảnh là đối tượng của sự Quán Chiếu, của lòng tin hoặc của sự hiểu biết. Hành là nhờ các Quán Chiếu cảnh, khởi lòng tin hiểu mà tu hành. Quả là do tu hành mà được Chứng Quả. Trong đó, Cảnh là đối với hết thảy pháp, xét kĩ ba tính thiện, ác, vô kí của chúng, quán xét xem chúng là Hữu Thể, vô thể, Hữu Vi hay Vô Vi v.v... Hành nghĩa là biết cảnh giới rồi thì tu tập văn tuệ, tư tuệ, tu tuệ, Chuyên Tu pháp Ngũ Trùng Duy Thức quán. Quả nghĩa là tu Hữu Lậu có thể cảm được tất cả diệu quả Thế Gian; còn tu vô lậu thì có thể vĩnh viễn diệt trừ các Phiền Não Chướng ngại mà chứng được Đại Bồ Đề. [X. Bát Nhã tâm kinh u tán Q.thượng; Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q. 7. phần đầu; Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương Q. 1. phần cuối]. CẢNH HỰU TÂN TU Pháp Bảo LỤC Gồm hai mươi mốt quyển. Do nhóm Lữ di giản đời Bắc Tống vâng mệnh vua soạn. Nói tắt là Cảnh hựu Pháp Bảo lục, Cảnh hựu bảo lục. Sách này tiếp theo Đại Trung Tường Phù Pháp Bảo Lục, được biên soạn vào năm Đại trung tường phù thứ 5 (1012), ghi chép tất cả kinh Phật được dịch từ đó đến năm Cảnh hựu thứ 4 (1037) gồm khoảng hai mươi lăm năm, đồng thời, thu chép cả các Tấu chương, Nguyện ban, Tự dẫn v.v...… trong thời gian đó. Sách này vốn đã thất lạc, chỉ còn nghe tên, bản sót lại được tìm thấy trong tạng Kim cất giữ tại chùa Quảng thắng, huyện Triệu thành tỉnh Sơn tây vào năm Dân quốc 22 (1933), sau được thu chép vào Tống tạng di trân tập hạ, hòm xuất bản thứ
12. Trong số hai mươi mốt quyển, thì bản Tống tạng di trân thiếu mất bảy quyển là các quyển 3, 5, 7, 11, 15, 19, 20 và hai quyển 8, 10 thì đã rách nát. Về sau, viện Nam Kinh Chi Na nội học sao chép các văn trọng yếu ra từ các bản Tống tạng di trân, Tổng lục của sách này, Đại Trung Tường Phù Pháp Bảo Lục, Thiên Thánh Thích Giáo Tổng Lục, Chí Nguyên Pháp Bảo Khám Đồng Tổng Lục v.v…… mà bù thêm vào các bộ phận đã thiếu, đề là: Cảnh hựu Pháp Bảo lục lược xuất và được ấn hành vào năm Dân quốc
23. [X. Phật Tổ Thống Kỉ Q. 45.; Đại Tạng Thánh Giáo Pháp Bảo Tiêu Mục Q. 1.; Chí Nguyên Pháp Bảo Khám Đồng Tổng Lục Q. 10.; Tống sử Q. 205. Nghệ văn chí; Phật giáo sử liệu (..…) Kim khắc Đại Tạng Kinh (Trủng bản Thiện long, Đông phương học báo kinh đô sách thứ 6)]. CẢNH MÊNH NHẬT Là ngày Thiên tử lên ngôi. Cảnh mệnh, hàm ý là mệnh lớn, có nghĩa là Hoàng đế vâng mệnh lớn của trời. Từ đời Nguyên trở về sau, trong Thiền Lâm, cứ mỗi tháng vào ngày ấy, lại cử Hành Nghi lễ tụng kinh chúc mừng, gọi là Cảnh mệnh Nhật Chúc tán. Cứ theo Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 1 mục Cảnh mệnh tứ trai Nhật Chúc tán chép, thì trước ngày Cảnh mệnh, vị Tri Sự báo cho đại chúng biết, rồi treo thẻ tụng kinh. Ngày hôm sau, thỉnh chuông sáng xong, tập tăng tại Tăng Đường, sau đó lên chính điện, tụng chú Thủ lăng nghiêm, niệm Danh Hiệu Phật Dược Sư. Xong rồi, vị Duy Na Hồi Hướng (Đại 48, 1114 trung): Ngày mỗ giờ mỗ, tại châu mỗ, chùa mỗ, trụ trì Truyền Pháp tên mỗ, cung thỉnh chư tăng tề tựu nơi bảo điện, Phúng Tụng Đại Phật Đỉnh vạn hạnh Thủ lăng nghiêm thần chú, tán dương Thánh hiệu, mong nhờ hồng ân, cầu chúc Hoàng thượng Hiện Tiền được vạn an trường thọ, Kim Cương Vô lượng thọ Phật Nhân Vương Bồ Tát. [X. Thiền Lâm tưọng khí tiên Báo đảo môn].