Bối Đa La Diệp
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Là bối Đa La. Bối Đa La, Phạm: pattra. Loại lá cây dùng để viết tư liệu hoặc văn kinh. Gọi tắt là Bối đa, Bối Diệp. Đời xưa, khi giấy chưa được phát minh, người Ấn Độ dùng lá bối đa thay giấy để viết. Hiện nay tại khu vực của Phật giáo Nam truyền cũng có người dùng lá bối Đa La để viết sách. Pattra tuy là tên của loại Thực Vật đặc biệt mà tên khoa học là Laurus oassia, nhưng cũng chỉ cho lá của loại Thực Vật phổ thông, hoặc loại lá cây dùng để viết sách. Trong đó, loại thích hợp nhất cho việc viết chép là lá cây Đa La (Phạm:tàla). Lá cây Đa La giống như lá cây cọ, dài và khít mịn. Trước khi viết chữ, đem lá này phơi khô, rồi cắt ra thành miếng, rộng độ sáu phân, dài khoảng sáu tấc, hai bên đều dùi một hay hai cái lỗ nhỏ rồi mới viết chép. Trước hết, dùng vật nhọn như kim, mũi dao hoặc bút sắt đâm khắc mặt lá, rồi lấy mực nước làm bằng mồng hóng thấm lên trên, đợi cho mực khô, lau sạch thì có những dấu vết viết chữ lưu lại trên mặt lá. Nếu văn kinh được viết trên lá ấy thì gọi là kinh lá bối. Khi viết xong, lại lấy chỉ xâu lá bối lại thành bó, dùng hai tấm ván gỗ mỏng bằng khổ lá bối làm bìa ép mặt trên và mặt dưới để khỏi lộn trang và rơi mất.Từ thế kỉ I đến thế kỉ X, Phật tử Ấn Độ xưa mang ba tạng Kinh, Luật, Luận viết trên lá bối đến Trung á và Tân cương của Trung Quốc, đến Tây tạng và Nepal để truyền bá Phật giáo, Tín Đồ Phật giáo ở các khu vực này cũng sang Ấn Độ Học Phật Pháp, rồi mang theo về nước nhiều kinh lá bối. Vào các thế kỉ XI, XII, Hồi giáo xâm nhập Ấn Độ, Tín Đồ Phật giáo Ấn Độ lại phát động phong trào đem kinh chữ Phạm truyền ra nước ngoài để Phiên Dịch, cho nên ở những khu vực kể trên rất nhiều kinh lá bối viết bằng tiếng Phạm đã được tìm thấy, nội dung bao gồm Kinh Điển Phật giáo Tiểu Thừa, truyền thuyết, truyện cổ, Thi Ca, lịch sử, kí sự v.v... Trong đó, các Phạm Giáp (Bản Kinh Phật viết bằng tiếng Phạm) tìm thấy ở Nepal là hoàn bị hơn cả. Mặc dầu sau khi giấy đã được phát minh, nhưng phổ thông kinh lá bối vẫn được bảo tồn, như Kinh Điển tiếng Tây tạng là một ví dụ. Những Bản Kinh bắt chước hình dáng kinh lá bối có bốn loại: lá đồng, vỏ cây hoa, giấy, bạch điệp (loại vải dày, mịn). Còn cái bìa bằng tấm ván gỗ mỏng ép kinh lá bối, hoặc là bìa sách, thì gọi là Phạm Giáp. Thân cây Đa La một khi đã bị chặt thì không bao giờ nảy chồi lại nữa, cho nên trong các kinh nó thường được dùng để ví dụ các tỉ khưu đã Phạm Trọng tội Ba La Di. Như kinh Lăng già quyển 6 (Đại 19, 132 hạ), nói: Hạng Điên Ca này đã tiêu diệt hạt giống Phật như người cầm dao chặt cây Đa La. Phật nói kẻ ấy vĩnh viễn mất gốc lành, không bao giờ thấy lại nữa, chìm đắm trong biển ba khổ, không thành Tam Muội. Ngoài ra, những kinh sách được đóng phỏng theo phương pháp đóng Kinh Điển lá bối, bất luận những kinh sách ấy được viết trên vỏ cây hoa hay trên giấy, cũng đều gọi chung là bản lá bối. Kinh Điển viết trên vỏ cây hoa được lưu truyền rất ít. Cây hoa sinh sản dọc theo triền núi vùng cao nguyên, như Kế tân ở miền tây bắc Ấn Độ, Trung á, Hòa điền và Cưu tư v.v.., bởi thế Kinh Điển viết trên vỏ cây hoa mới được đào thấy ở những nơi đó, loại kinh này chỉ viết bằng chữ Ấn Độ cổ xưa, và niên đại sao chép rất sớm, về sau vỏ cây hoa dần dần được thay thế bằng lá bối. Bản lá bối rất phổ biến ở Ấn Độ, nhưng ở Trung á thì chỉ thông dụng đối với sách Phật mà thôi, và chủ yếu là chữ Phạm, chữ Tây tạng, chữ Hồi hột v.v.., thỉnh thoảng cũng thấy có bản bằng tiếng Đổ hóa la, tiếng Thổ nhĩ kì cổ đại, tiếng Ấn Độ xưa, và một số ít bản bằng chữ Hán.