Bồ Đề Tiên Na

《菩提僊那》 pú tí xiān nà

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: Bodhisena, Jātaka: Bodaisenna 704-760: vị tăng Ấn Độ sang Nhật Bản dưới Thời Đại Nại Lương (, Nara), xuất thân dòng dõi Bà La Môn ở Nam Ấn Độ, còn gọi là Bà La Môn Tăng Chánh (), Bồ Đề Tăng Chánh (). Truyền ký về ông trong Đại An Tự Bồ Đề Truyền Lai Ký () của Nam Thiên Trúc Bà La Môn Tăng Chánh Bi () do Đệ Tử Tu Vinh () soạn cũng như Đông Đại Tự Yếu Lục (), vẫn còn lưu lại. Tiên Na được khắp nơi trong nước tôn kính và rất nhiều tư tưởng gia tán dương. Ông đi từ Trung Á, Tây Á để sang Trung Quốc, theo bước chân truyền bá Phật Giáo của các Danh Tăng như An Thế Cao (), v.v., từ rặng Hy Mã Lạp Sơn vượt qua Tây Tạng và cuối cùng đến nước Đại Đường, Trung Hoa. Mục đích chính của ông tại đây là tham bái Bồ Tát Văn Thù (Sanskrit: Mañjuśrī, ) trên Ngũ Đài Sơn (). Tại nhà Đường, tương truyền ông từng lấy Sùng Phước Tự () ở Trường An () làm cứ điểm hoạt động Bố Giáo. Sau đó, thể theo lời thỉnh cầu của vị tăng sang nhà Đường cầu pháp là Lý Kính () và vị Chánh Sứ Đa Trị Tỉ Quảng (), ông cùng với Đệ Tử xuất thân vùng Lâm Ấp (, Nam bộ Việt Nam)Phật Triết (, hay Phật Triệt []) và vị Đường tăng Đạo Tuyền () sang Nhật Bản vào năm thứ 8 (736) niên hiệu Thiên Bình (). Ban đầu, cả ba người dừng chân ở Đại Tể Phủ (, Dazaifu), rồi được Hành Cơ (, Gyōki) nghênh đón lên kinh đô, sau đó đến trú ở Đại An Tự (, Daian-ji). Tại đây, ông thường đọc tụng Hoa Nghiêm Kinh (Sanskrit: Buddhāvataṁsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, ) và tinh thông về Chú Thuật, cho nên Chú Thuật Ấn Độ đã được Tiên Na truyền trao cho các vị Đệ Tử tăng Nhật Bản. Vào năm thứ 3 (751) niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo (), ông được bổ nhiệm làm chức Tăng Chánh (), vì vậy ông được gọi là Bà La Môn Tăng Chánh. Năm sau, ông được cung cử làm vị Đạo Sư (Chủ Sám) trong buổi lễ Cúng Dường Khai Nhãn Tượng Đại Phật () Lô Xá Na (Sanskrit: Vairocana, )Đông Đại Tự (, Tōdai-ji). Cây bút ông dùng để khai nhãn lúc bấy giờ hiện vẫn còn lưu lại tại Chánh Thương Viện (, Shōsō-in) của chùa này. Trong bức Nguyện Văn của Quốc Gia Trân Bảo Trương () có ghi tên ông, chứng tỏ ông có mối quan tâm rất lớn đối với việc xây dựng tượng Đại Phật. Vào năm thứ 2 (758) niên hiệu Thiên Bình Bảo Tự (), ông được Thượng Hoàng và Hoàng Thái Hậu ban cho Tôn Hiệu. Vào ngày 25 tháng 2 năm thứ 4 (760) cùng niên hiệu trên, ông hướng về phương Tây, chấp tay An Nhiên Thị Tịch tại Đại An Tự, hưởng thọ 57 tuổi. Năm sau, ông được an táng tại Hữu Bộc Xạ Lâm () thuộc Đăng Mỹ Sơn (). Mấy năm gần đây, ngôi mộ của Bồ Đề Tăng Chánh được khai quật ở Linh Sơn Tự (, Ryōsen-ji, thuộc Nara-ken []), nhưng không tìm thấy di vật nào cả; vì thế nó được xem như là ngôi mộ cúng dường thôi. Về vị Bà La Môn trong Vạn Diệp Tập (, Manyōshū) 16, có thuyết cho rằng đó là ám chỉ Bồ Đề Tiên Na. Đệ Tử của ông có nhóm Tu Vinh ().