Biểu Bạch

《表白》 biǎo bái

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Bày tỏ rõ ràng. Khi cử Hành Pháp hội hoặc trong khoá tu niệm, ở trước đức Phật giải bày nguyện vọng và mục đích của mình để cầu xin Tam Bảo chứng giám, gọi là Biểu Bạch. Cũng gọi Khải bạch. Nếu bạch lúc bắt đầu cử Hành Pháp hội thì gọi là Khai bạch, Khai khải. Cứ theo Đại Tống Tăng Sử Lược quyển trung Hành Hương xướng đạo điều và Thích Thị Yếu Lãm quyển thượng Biểu Bạch điều chép, thì Biểu Bạch bắt nguồn từ sự Chú Nguyện của Ấn Độ, nó đồng nghĩa với từ Xướng đạo thời xưa. Như văn xướng đạo do Giản văn đế nhà Lương soạn vào thời Nam triều được chép trong Quảng Hoằng Minh Tập quyển 15, rất giống hình thức văn Biểu Bạch đời sau. Lại trong các Tùng Lâm Trung Quốc, khi Quá Đường (lên nhà trai thụ trai), Hòa Thượng trụ trì có việc cần thông báo cho đại chúng biết, thì gọi là Biểu đường. [X. kinh Kim Cương đính Du Già trung lược xuất Niệm Tụng Q. 2.; luận Thuyết Pháp minh nhãn phẩm Biểu Bạch; Thiền Lâm Tượng Khí Tiên phúng xướng môn].