Bát Phong

《八風》 bā fēng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: tám ngọn gió, còn gọi là Bát Pháp (), Bát Thế Phong (); là 8 pháp hay ngọn gió được Thế Gian yêu, ghét, có thể làm động nhân tâm, nên lấy gió làm ví dụ. Tám ngọn gió ấy gồm: (1) Lợi (), tức Lợi Ích; phàm có Lợi Ích đối với mình, đều gọi là lợi. (2) Suy (), tức suy diệt; phàm có sự suy tổn đối với mình, đều gọi là suy. (3) Hủy (), tức hủy báng, vì nhân ghét người nào đó, dùng lời không tốt để nói xấu họ. (4) Dự (), tức khen ngợi, Tán Thán, nghĩa là do vì yêu thích người nào đó, cho dù chưa hề gặp mặt, cũng lấy lời lẽ tốt đẹp mà khen ngợi. (5) Xưng (), xưng dương, nêu cao; nghĩa là do vì tôn trọng người nào đó, thường xưng dương họ trước mọi người. (6)(), tức quở trách, chê bai; nghĩa là do vì ghét người nào đó, dù không có chuyện gì, cũng dối làm cho thành sự thật, chê bai, trình bày trước mọi người. (7) Khổ (), tức có ý nghĩa bức bách; nghĩa là nhân gặp duyên hay cảnh không tốt mà thân tâm phải chịu bức bách, khổ não. (8) Lạc (), ý là vui mừng; nghĩa là nhân gặp duyên hay cảnh tốt mà thân tâm đều vui mừng, hoan hỷ. Trong Đại Thừa Vô Sanh Phương Tiện Môn (便, Taishō Vol. 85, No. 2834) có câu: “Thân Thể cập thủ túc, Tịch Nhiên an Bất Động, Bát Phong xuy Bất Động (, Thân Thể và tay chân, vắng lặng yên chẳng động, Tám Gió thổi chẳng động).” Hay như trong Thiền Môn Chư Tổ Sư Kệ Tụng (, CBETA No. 1298), phần Tô Khê Hòa Thượng Mục Hộ Ca () lại có câu: “Sanh dã do như trước sam, tử dã hoàn đồng thoát khố, Sanh Tử vô hỷ vô ưu, Bát Phong khởi năng kinh bố (, sống cũng giống như mặc áo, chết chẳng khác gì cởi quần, sống chết chẳng vui chẳng buồn, Tám Gió tại Sao Kinh sợ).” Hoặc như trong Ngô Sơn Tịnh Đoan Thiền Sư Ngữ Lục (, CBETA No. 1449) có đoạn rằng: “Phổ Hóa Hàn Sơn Thập Đắc chi lưu, chỉ yếu đương nhân thời thời tỉnh bộ, bất tùy Bát Phong sở phiêu, hốt nhiên Nhất Niệm Tương Ưng, tức thị đáo gia thời tiết (, dòng Thiền của Phổ Hóa, Hàn Sơn, Thập Đắc, chỉ cần người ấy luôn luôn tỉnh giác nắm bắt, chẳng bị Tám Gió cuốn theo, đột nhiên một niệm Tương Ưng, tức là đến lúc về nhà).” Tương truyền thi sĩ Tô Đông Pha (, 1036-1101) có làm một bài thơ thể hiện chỗ sở ngộ của ông và trình lên cho Thiền Sư Phật Ấn () xem, trong đó có hai câu rằng: “Bát Phong xuy Bất Động, đoan tọa Tử Kim Đài (, Tám Gió thổi chẳng động, ngồi yên Vàng Tía Đài).”