Bát Môn Lưỡng Ích

《八門兩益》 bā mén liǎng yì

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Tám cửa hai ích. Tiếng dùng trong Nhân Minh. Luận sư của nền Nhân Minh (Luận lí học) mới của Ấn Độ là ngài Thương Yết La Chủ tóm thu lí chính xác của Nhân Minh làm tám nghĩa môn. Tám nghĩa này lại có thể tổng quát làm hai loại Lợi Ích. Tám nghĩa là: Năng Lập, Năng Phá, tự Năng Lập, tự Năng Phá, Hiện Lượng, tỉ lượng, tự Hiện Lượng, tự tỉ lượng. Hai ích cũng gọi hai ngộ: Ngộ Tha (Phạm: paràrtha-làm cho người khác hiểu rõ) và tự ngộ (Phạm: svàrtha làm cho chính mình hiểu rõ). Trong tám nghĩa thì bốn nghĩa trước có Tác Dụng khiến người khác hiểu rõ, còn bốn nghĩa sau thì có Tác Dụng khiến chính mình hiểu rõ. Trong đây, Năng Lập, Năng Phá có thể khiến cho người vấn nạn (Địch giả) hiểu rõ, tự Năng Lập, tự Năng Phá có thể nhờ vào sự chỉ trích của người vấn nạn mà hiển bày sự sai lầm của Năng Lập, Năng Phá. Điều đó có thể giúp người lập luận (Lập giả) tự hiểu rõ, nhưng cũng có hiệu năng giúp các người khác (người vấn nạn và người Chứng Nghĩa v.v...) hiểu rõ, vì thế bốn nghĩa này (Năng Lập, Năng Phá, tự Năng Lập, tự Năng Phá) được gọi chung là Ngộ Tha môn. Hiện Lượng và tỉ lượng là chính người lập luận biết rõ đối tượng một cách chính xác cả về lí và sự, còn tự Hiện Lượng và tự tỉ lượng thì là lượng tính đối tượng một cách sai lầm cả về lí lẫn sự. Tuy có chính xác và tương tự khác nhau, nhưng bốn môn này (Hiện Lượng, tỉ lượng, tự Hiện Lượng, tự tỉ lượng) đểu chỉ có thể làm cho chính mình hiểu rõ, chứ không thể dùng để khiến cho người khác hiểu rõ được. [X. Nhân Minh Nhập Chính Lí Luận Sớ Q.thượng phần đầu]. (xt. Nhị Ngộ, Nhân Minh, Nhân Minh Bát Môn).

Bát Môn Lưỡng Ích. Từ Điển Phật Học Vibudra. https://www.vibudra.org/glossary/thuatngu/bat-mon-luong-ich. Truy cập 07/04/2026.