Bảo Man Dụ Kinh

《寶鬘喻經》 bǎo mán yù jīng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Tên Phạm: Ratnamàlàvadàna, ý là Thí Dụ dùng các thứ báu mà trang sức. Cũng có bản viết là Ratnàvadànamàlà, Ratnàvadànatatva. Kinh này là loại văn học Thí Dụ (Avadàna), tường thuật về Nhân Duyên các Đệ Tử của Phật, kiếp trước nhờ tạo nghiệp thiện mà kiếp sau được Chứng Quả báo tương ứng với nghiệp thiện. Trong một số nguyên điển bằng tiếng Phạm, Ratnàvadànamàlàthu chép mười hai duyên, đó là:
1. Dũ nọa tử Nan Đà kiến Phật Duyên (Phạm: Kauzìdyavìryotsàhanàvadàna, Nhân Duyên kẻ lười biếng Nan Đà gặp Phật).
2. Pháp Hộ vương thỉnh Phật tẩy dục duyên (Phạm: Snàtàvadàna, Nhân Duyên vua Pháp Hộ thỉnh Phật tắm gội).
3. Nữ nhân dĩ Kim Luân trịch Phật Duyên (Phạm: Cakràvadàna, Nhân Duyên người đàn bà lấy bánh xe vàng ném Phật).
4. Ác Kiến bất thí thủy đọa ngã quỉ duyên (Phạm:Pretikàvadàna, kẻ Ác Kiến không Bố Thí nước phải rơi vào cõi quỉ đói).
5. Thái Hoa cúng dường Phật đắc Sinh Thiên duyên (Phạm: Zàlapuwpàvadàna, Nhân Duyên hái hoa cúng dường Phật được sinh cõi trời).
6. Phật Thuyết Ta vạt nẵng Pháp Thiên tử thụ tam qui hoạch miễn Ác Đạo kinh (Phạm: Sùkaryàvadàna, kinh Phật nói về Pháp Thiên tử Ta vạt nẵng thụ tam qui được thoát khỏi ngả ác).
7. Hữu đại uy đức duyên (Phạm: Vapuwma-tkumàràvadàna, Nhân Duyên có uy đức lớn).
8. Vấn đáp duyên (Phạm: Praznottaràva-dàna, Nhân Duyên hỏi đáp).9. Bạch tịnh tỉ khưu ni y lí thâm sinh duyên (Phạm: Zuklàvadàna).
10. Bảo thủ tỉ khưu duyên (Phạm: Hiraịya-pàịyàvadàna).
11. Ngột thủ tỉ khưu duyên (Phạm: Hastakà-vadàna).
12. Ngũ bách thương khách nhập hải thái bảo duyên (Phạm:Sàrthàvàhavadàna, Nhân Duyên năm trăm lái buôn xuống biển tìm ngọc). Một bản tiếng Phạm nữa là Ratnàvadànatatva thì thu chép hai mươi ba duyên. Kinh này do các bài kệ tụng bằng tiếng Phạm tổ thành, là những bài kệ do tôn giả Ưu bà cúc đa (Phạm: Upagupta nói ra nhằm khuyên vua A dục tu nghiệp thiện để được ích và Công Đức. Nội dung phần nhiều lấy đề tài từ kinh Soạn tập bách duyên và kinh Tạp Bảo Tạng nhằm mục đích truyền bá rộng rãi nghĩa Đại Thừa. Do đó, toàn bộ lấy việc tuyên dương Phật giáo Đại Thừa làm tiền đề, đặc biệt nhấn mạnh sự Cung Kính Tam Bảo, khuyên tu mười Ba La Mật để được Công Đức, hạnh phúc, cho đến vãng sinh cõi Phật. Về niên đại thành lập kinh này có nhiều thuyết. Đứng về phương diện tư tưởng mà nói, thì kinh này tương đương với tư tưởng Đại Thừa tiến bộ; còn nói về mặt ngôn ngữ và thể văn thì hoàn toàn giống với văn học Phú Lan Na. Cho nên, nhà học giả Hà lan là Sử bái nhĩ (Speyer, Jacob Samuel; 1854- 1913), suy định là kinh này đã được thành lập khoảng bốn trăm năm đến một nghìn năm sau Tây lịch. Học giả người Áo đại lợi là Ôn Đặc Nhĩ Ni Tư (Winternitz, Moriz; 1863- 1937) và nhà học giả Nhật bản là Cao hoàng khoan ngã, thì cho rằng, kinh này được thành lập từ sau thế kỉ thứ VI Tây lịch. Năm 1955, Cao hoàng khoan ngã hợp hai bản Ratnàvadànamàlà và Ratnàvadànatatva làm một là Ratnamàlàvadànarồi hiệu đính và xuất bản. [J. Speyer: Avadànazataka; M. Winternitz: Geschichte der indischen Literatur; Ấn Độ Học Phật giáo học nghiên cứu tam chi nhị (Cao hoàng khoan ngã)].