Ẩn Nguyên Long Kỷ

《隱元隆琦》 yǐn yuán lóng qí

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Ingen Ryūki, 1592-1673: vị tổ khai sáng Hoàng Bá Tông Nhật Bản, người vùng Phúc Thanh (), Phúc Châu (, Tỉnh Phúc Kiến), họ là Lâm (), hiệu là Ẩn Nguyên (), sinh ngày mồng 4 tháng 11 năm thứ 20 niên hiệu Vạn Lịch () nhà Minh. Năm lên 9 tuổi, ông có chí ham học, nhưng năm sau thì bỏ học, theo nghiệp trồng tiêu. Có đêm nọ ông ngồi nằm dưới gốc cây tùng, mới ngộ được rằng muốn hiểu rõ Diệu Lý của trời đất, mặt trời, mặt trăng, các vì sao, v.v., thì không còn con đường nào hơn là quy y vào cửa Phật. Cuối cùng với lòng quyết tâm, năm 23 tuổi ông lên Phổ Đà Sơn () ở Nam Hải, thuộc Ninh Ba (, Tỉnh Triết Giang), tham bái Triều Âm Động Chủ (). Năm lên 29 tuổi, ông đến viếng thăm Hoàng Bá Sơn (), theo Giám Nguyên Hưng Thọ () xuống tóc Xuất Gia, và sau đó đi tham bái khắp các nơi. Trong thời gian này, ông có học Kinh Pháp Hoa ở Hưng Thiện Tự () vùng Gia Hưng (, Tỉnh Triết Giang), rồi Kinh Lăng Nghiêm ở Bích Vân Tự (). Bên cạnh đó ông còn đến gõ cửa Mật Vân Viên Ngộ () và thọ nhận Tâm Ấn của vị này. Vào năm thứ 6 (1633) niên hiệu Sùng Trinh (), khi Phí Ẩn Thông Dung () đang sống tại Hoàng Bá Sơn, ông được cử làm chức Tây Đường, sau thể theo lời thỉnh cầu, ông lên quản lý cả Hoàng Bá Tông và đã làm cho Tông Phong rạng rỡ tột đỉnh; bên cạnh đó ông còn tận lực cho xây dựng các ngôi đường vũ khang trang hơn, và trở thành pháp từ của Phí Ẩn. Ông đã từng sống qua một số chùa như Phước Nghiêm Tự () ở Sùng Đức (, Tỉnh Triết Giang), Long Tuyền Tự () ở Trường Lạc (, Tỉnh Phúc Kiến). Đến năm thứ 11 (1654) niên hiệu Thuận Trị (), nhận lời cung thỉnh của mấy vị tăng nhóm Dật Nhiên Tánh Dung ()Hưng Phước Tự (, Kōfuku-ji) vùng Trường Khi (, Nagasaki), ông cùng với Đại Mi Tánh Thiện (), Độc Trạm Tánh Oanh (), Độc Ngôn Tánh Văn (), Nam Nguyên Tánh Phái (), v.v., hơn 30 người Đệ Tử lên thuyền sang Nhật, đến Hưng Phước Tự. Khi ấy ông đã 63 tuổi. Năm sau, ông chuyển đến Sùng Phước Tự (, Sūfuku-ji), rồi thể theo lời mời của Long Khê Tánh Tiềm ()Phổ Môn Tự (, Fumon-ji) vùng Nhiếp Tân (, Settsu), ông đến làm trú trì chùa này. Sau đó, vào tháng 9 năm đầu (1651) niên hiệu Vạn Trị (), ông đi lên phía đông, đến trú ngụ tại Lân Tường Viện () ở Thang Đảo (, Yushima) vùng Giang Hộ (, Edo, thuộc Tokyo), đến yết kiến Tướng Quân Đức Xuyên Gia Cương (, Tokugawa Ietsuna), và vì hàng sĩ thứ mà Thuyết Pháp lợi sanh. Vào tháng 5 năm đầu (1661) niên hiệu Khoan Văn (), ông sáng lập Hoàng Bá Sơn Vạn Phước Tự () tại vùng đất Vũ Trị (, Uji), làm căn cứ truyền bá Thiền Phong của Hoàng Bá Tông tại Nhật Bản; và đến tháng 9 năm thứ 4 đồng niên hiệu trên, ông nhường ngôi trú trì lại cho Mộc Am Tánh Thao (), và lui về ẩn cư. Vào tháng 2 năm thứ 13 cùng niên hiệu trên, ông bị bệnh nhẹ; ngày 30 cùng tháng này Hậu Thủy Vĩ Thượng Hoàng (, Gomizunō Jōkō) sai sứ đến vấn an ông. Đến ngày mồng 2 tháng 4, ông được ban cho hiệu là Đại Quang Phổ Chiếu Quốc Sư (). Vào ngày mồng 3 tháng 4 năm sau, ông Thị Tịch, hưởng thọ 82 tuổi đời, 54 Hạ Lạp, và được ban tặng thêm cho Thụy Hiệu là Phật Từ Quảng Giám Thiền Sư (). Ngoài ra ông còn có một số hiệu khác như Kính Sơn Thủ Xuất Thiền Sư (), Giác Tánh Viên Minh Thiền Sư (). Trước tác của ông để lại có Hoàng Bá Ngữ Lục () 2 quyển, Long Tuyền Ngữ Lục () 1 quyển, Hoàng Bá Sơn Chí () 8 quyển, Hoằng Giới Pháp Nghi () 2 quyển, Dĩ Thượng Trung Quốc Soạn Thuật (), Phù Tang Hội Lục () 2 quyển, Phổ Chiếu Quốc Sư Quảng Ngữ Lục () 20 quyển, Hoàng Bá Hòa Thượng Thái Hòa Tập () 2 quyển, Đồng Kết Tập () 2 quyển, Sùng Phước Tự Lục (), Phật Tổ Đồ Tán (), Phật Xá Lợi(), Ẩn Nguyên Pháp Ngữ (), Phổ Môn Thảo Lục (), Tùng Ẩn Tập (), Vân Đào Tập (), Hoàng Bá Thanh Quy (), v.v.