Ấn Hoại Văn Thành

《印壞文成》 yìn huài wén chéng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Chỉ con dấu bằng sáp in lên đất bùn, con dấu thì nát mất, nhưng vết nó còn đó. Trong các kinh luận phần nhiều dùng từ ngữ này để Thí Dụ sự sống chết nối nhau không dứt. Tức dùng con dấu nát mất để Thí Dụ cái chết, vết còn lại Thí Dụ cái sống, hiển bày nghĩa sống chết đồng thời. Cũng là Thí Dụ cái lí tương tục tuần hoàn của mười hai Nhân Duyên. Thí Dụ sự Luân Hồi của Thế Giới hữu tinh, các uẩn hiện tại tuy đã diệt, nhưng lại sinh các uẩn Trung hữu; đây không có nghĩa là các uẩn hiện tại biến thành các uẩn Trung hữu, cũng không phải các uẩn Trung hữu tự nhiên sinh, mà là do các uẩn hiện tại hoại diệt nên mới có các uẩn Trung hữu, cũng như con dấu nát mất mà thành vết còn lại. Lại tông Tịnh Độ dùng nó để Thí Dụ Niệm Phật vãng sinh, tức con dấu nát Thí Dụ sự hoại diệt của Sắc Thân, vết còn lại Thí Dụ vãng sinh Tịnh Độ. [X. kinh Đại ban Niết Bàn (bản Bắc) Q. 29.; luận Đại trí độ Q. 12.; Ma Ha Chỉ Quán Q. 9. phần dưới; An Lạc Tập Q.thượng].