Xuy Cữu Mộng
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: giấc mơ thấy đốt cối xay. Từ này phát xuất từ câu chuyện của Trương Chiêm (張瞻) trong Tây Dương Tạp Trở, phần Mộng (夢) của Đoàn Thành Thức (段成式, khoảng 803-863) nhà Đường như sau: “Cổ khách Trương Chiêm tương quy, mộng xuy ư cữu; vấn Vương Sanh, Sanh ngôn: 'Quân quy, bất kiến thê hỉ; cữu trung xuy, cố vô phủ dã.' Cố khách chí gia, thê quả tốt dĩ sổ nguyệt (賈客張瞻將歸、夢炊於臼、問王生、生言、君歸、不見妻矣、臼中炊、固無釜也、賈客至家、妻果卒已數月, vị khách buôn tên Trương Chiêm chuẩn bị về nhà, chợt mộng thấy đốt chiếc cối xay; bèn hỏi Vương Sanh, Sanh đáp: 'Ông về đến nhà thì không gặp được vợ nữa, đốt trong cối, cứng không có nồi.' Khi người khách buôn về đến nhà, quả nhiên vợ ông đã qua đời mấy tháng rồi).” Từ “vô phủ (無釜)” đọc trại là “vô phụ (無婦)”, nghĩa là không có vợ, không còn vợ nữa, tức là vợ đã chết. Cho nên, xuy cữu (炊臼) hay Xuy Cữu Mộng đều là những từ được dùng để chỉ cho vợ chết. Từ đó, có một số từ liên quan khác như xuy cữu chi thống (炊臼之戚), xuy cữu chi thích (炊臼之痛) để nói lên niềm đau xót vô biên khi mất vợ, hay để tang vợ. Trong Liên Pha Thi Thoại (蓮坡詩話) quyển trung của Tra Vi Nhân (查爲仁, 1693-1749) nhà Thanh có câu: “Tân xú trọng xuân, dư tao xuy cữu chi thống, đồng nhân hòa điệu vong thi thậm đa (辛醜仲春、餘遭炊臼之痛、同人和悼亡詩甚多, giữa mùa xuân xui xẻo, gặp phải tang vợ, mọi người cùng làm thơ thương tiếc rất nhiều).” Khi đám tang người vợ, trong một số đối liễn, thường có câu: “Xuy Cữu Mộng lai (炊臼夢來, giấc mơ đốt cối đến).”