Y Bồ

《伊蒲》 yī pú

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: từ gọi khác của Ưu Bà (Sanskrit: upasa, ), nghĩa là thức ăn chay. Trong Phật Giáo thường có các dụng ngữ như “Y Bồ Soạn (, món ăn chay)”, “Y Bồ cúng (, thức cúng chay)”, v.v. Trong đó có từ “Y Bồ đệ nhất (, thức ăn chay số một)” là muốn nói đến loại Nấm Trúc (, trúc khuẩn). Từ thời nhà Tống trở đi, loại nấm này trở thành vật nổi tiếng nhất, là sản phẩm xuất xứ từ Dương Tiện (, ngày xưa gọi là Kinh Khê [], nay thuộc Ngô Hưng [], Tỉnh Triết Giang []). Theo tác phẩm Kinh Khê Sớ () của Vương Trĩ Đăng (, 1535-1612) nhà Minh, loại Nấm Trúc này được đánh giá rất cao như: “Trúc Cô, khuẩn dã; tiểu như tiền, xích như Đơn Sa, sanh dĩ nhị nguyệt, sơn trung sở tại giai hữu chi, phong vị cực giai, đương vi Y Bồ đệ nhất (, Nấm Trúc là một loại nấm, nhỏ như đồng tiền, đỏ như Đơn Sa, sanh trưởng vào tháng 2, trong núi sâu mới có nấm này, mùi vị vô cùng ngon, chính là món ăn chay số một).” Hay như trong Đông Pha Mộng () của Ngô Xương Linh (, ?-?) nhà Nguyên có câu: “Đô quy nhất cá không, chỉ hữu na Y Bồ cúng (, thảy đều trở về tay không, chỉ có chút thức cúng chay).” Hơn nữa, trong bài Cẩm Châu Sắc Sứ Lưu Ấm Huyên Trú Tạng Hồi Thục Viễn Ký Tạng Phật Nhất Tôn Phú Tạ () của Triệu Dực (, 1727-1814) nhà Thanh cũng có đoạn rằng: “Quý vô Thất Bảo Trang Nghiêm Bát Nhã tọa, diệc thiểu hữu bách hoa cúng dường Y Bồ diên (, thẹn chẳng có bảy báu để Trang Nghiêm tòa Bát Nhã, lại ít có trăm hoa để cúng dường diên cúng chay).”