Xá Vệ Quốc
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
s: Śrāvastī, Pāli: Sāvatthī: tên của một vương quốc cổ của Ấn Độ còn gọi là Xá Bà Đề Quốc (舍婆提國), Thất La Phiệt Quốc (室羅伐國), Thi La Bạt Đề Quốc (尸羅跋提國), Xá Ra Bà Tất Đế Quốc (舍囉婆悉國); ý dịch là Văn Vật (聞物又以此城多出名人,多产胜物,故称闻物国。), Văn Giả (聞者), Vô Vật Bất Hữu (無物不有), Phong Đức (豐德), Hảo Đạo (好道). Hơn nữa, thành này vốn xuất phát nhiều danh nhân, nhiều sản vật nổi tiếng, nên có tên là Văn Vật Quốc (聞物國). Nguyên gốc nó là tên thành đô của Bắc Kiều Tát La Quốc (Sanskrit: Uttara-Kośalā, 北憍薩羅國), khác với Nam Kiều Tát La Quốc (Sanskrit: Dakṣiṇa-Kośalā, 南憍薩羅國). Về xuất xứ tên gọi Xá Vệ Quốc, có nhiều thuyết khác nhau. Như trong tác phẩm Tỳ Thấp Nô Phú Lan Na (Sanskrit: Viṣṇu-purāṇa, 毘濕奴富蘭那) có ghi rằng người sáng lập ra thành này là Nhật Chủng Vương (Sanskrit: Śrāvasta, 日種王). Khi đức Phật còn tại thế vua Ba Tư Nặc (Sanskrit: Prasenajit, Pāli: Pasenadi 波斯匿) trị vì thành này. Theo Phân Biệt Công Đức Luận (分別功德論) quyển 2, đức Phật sống tại Thành Xá Vệ trước sau 25 năm, lâu hơn so với các nơi khác. Do vì quốc gia này rất vi diệu, nhiều vật trân kỳ, nhân dân tai đây hiểu rõ nghĩa lý; hơn nữa, Tinh Xá Kỳ Hoàn (Pāli: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇洹精舍) lại có nhiều điều thần nghiệm. Khi chư tăng tập trung nghe pháp, có cả ngàn con khỉ, vượn hội tụ về hai bên phải trái để lắng nghe, nhưng vắng lặng chẳng một tiếng động. Ngay cả loài chim chóc cũng bay đến đây để nghe pháp. Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 3 có ghi rằng Xá Vệ Quốc là vùng đất xuất sanh của đức Phật, cho nên có nhiều Chúng Sanh sống tại đây để báo ơn Phật. Phần lớn trong các Kinh Điển đều thấy có tên của quốc gia này, như các kinh của hệ A Hàm (Pāli: Āgama, 阿含), Hiền Kiếp Kinh (賢劫經), Di Lặc Hạ Sanh Kinh (彌勒下生經), Di Lặc Thượng Sanh Kinh (彌勒上生經), Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經), A Di Đà Kinh (阿彌陀經), Văn Thù Bát Nhã Kinh (文殊般若經), Kim Cang Bát Nhã Kinh (金剛般若經), v.v. Tương truyền khi đức Thế Tôn còn tại thế, vương quốc này có đến 9 ức ngôi nhà; tuy nhiên, đến đầu thế kỷ thứ 5 sau công nguyên, lúc Cao Tăng Pháp Hiển (法顯, 340?-?) sang chiêm bái, nơi đây đã hoang phế rồi. Đến 200 năm sau, khi Huyền Trang (玄奘, 602-664) đến, nơi đây vẫn còn hoang phế. Các thánh tích như Đại Pháp Đường do Thắng Quân Vương (勝軍王) kiến tạo, Tinh Xá Bát Ra Xà Để (缽邏闍底精舍), nơi Ngoại Đạo Chỉ Man (指鬘) hối cải Chứng Đạo, Tinh Xá Kỳ Viên (祇園精舍), nơi đức Phật chăm sóc bệnh cho Tỳ Kheo, nơi Xá Lợi Phất (Sanskrit: Śāriputra, Pāli: Sāriputta 舍利弗) và Mục Kiền Liên (Sanskrit: Maudgalyāyana; Pāli: Moggallāna 目犍連) tranh nhau về Thần Thông, nơi Ngoại Đạo giết người dâm nữ hủy Báng Phật, nơi Đề Bà Đạt Đa (s, Pāli: Devadatta 提婆達多) bị rơi vào hầm lớn Địa Ngục, v.v., đều trở thành hoang tàn, đỗ nát. Về vị trí của thành này, theo suy định của nhà khảo cổ học người Anh là A. Cunningham cho biết rằng thành này nằm gần Oudh (xưa gọi là Sa Chỉ [p: Sāketa, 沙只]), khoảng hơn 90 dặm về phía Bắc, tức là địa phương Sahet Mahet ở vùng tả ngạn sông Rapti. Nhân gần đây người ta phát quật tại nơi này, phát hiện có một tượng Phật to lớn trên có khắc dòng chữ Śrāvastī; thêm vào đó, trong Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記) quyển 6 có đề cập đến khu thành chu vi khoảng 5 công lý, bản đồng ghi lại việc Bố Thí ruộng đất cho Kỳ Viên Tinh Xá, như vậy cũng đủ chứng minh nơi đây là vùng đất ngày xưa của Xá Vệ Quốc.