Xá Lợi

《舍利》 shě lì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: śarīra, Pāli: sarīra: âm dịch là Thật Lợi () Thiết Lợi La (), Thất Lợi La (); ý dịch là tử thi (), di cốt (), xác chết, thân, thể, thân cốt (), di thân (). Thông thường, từ này được dùng để chỉ cho di cốt của đức Phật, nên có tên là Phật cốt (), Phật Xá Lợi (); về sau chỉ cho phần xương cốt lưu lại sau khi hỏa thiêu của chư vị Cao Tăng. Bảo Tháp nơi được an trí Xá Lợi Phật được gọi là Xá Lợi Tháp (), bình có an trí Xá Lợi thì gọi là Xá Lợi Bình (), hay Pháp Hội cúng dường Xá Lợi Phật thì có tên là Xá Lợi Hội (). Như trong Hợp Bộ Kim Quang Minh Kinh (, Taishō Vol. 16, No. 664) quyển 8 định nghĩa rằng: “Thử Xá Lợi giả, thị Giới Định Tuệ chi sở Huân Tu, thậm nan khả đắc, tối thượng Phước Điền (, Xá Lợi này được Huân Tu bởi Giới Định Tuệ, thật khó có được, là ruộng phước tối thượng).” Dục Phật Công Đức Kinh (, Taishō Vol. 16, No. 698) chia Xá Lợi làm 2 loại: (1) Sanh Thân Xá Lợi (), tức di cốt của đức Phật; (2) Pháp Thân Xá Lợi (), hay Pháp Tụng Xá Lợi (), là giáo pháp, giới luật của Ngài để lại và lấy Xá Lợi để ví dụ. Trong khi đó, Pháp Uyển Châu Lâm (, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 40 lại phân Xá Lợi làm 3 loại: (1) Cốt Xá Lợi (, Xá Lợi xương), có màu trắng; (2) Phát Xá Lợi (, Xá Lợi răng), màu đen; (3) Nhục Xá Lợi (, Xá Lợi thịt), màu đỏ. Xá Lợi nói chung chủ yếu là mảnh xương, có hình trạng lớn nhỏ bất đồng, cứng chắc, nhỏ vụn, thường như hạt đậu. Theo Kinh Điển cho biết rằng Xá Lợi đức Phật được chia làm 3 phần cho Chư Thiên, Long Vương và con người. Trong đó, tương truyền Trời Đế Thích (Sanskrit: Indra, Pāli: Inda ) thì nhận Xá Lợi răng, đem về Trời cúng dường, nhưng bị quỷ chạy nhanh đoạt mất một miếng. Ngoài việc Lễ Bái Xá Lợi đức Phật, còn có truyền thống Lễ Bái Xá Lợi của các tôn giả A Nan (s, Pāli: Ānanda ), Mục Kiền Liên (Sanskrit: Maudgalyāyana, Pāli: Moggallāna ), Xá Lợi Phất (Sanskrit: Śāriputra, Pāli: Sāriputta ), v.v. Bên cạnh đó, Lễ Bái các Thánh địa như nơi đức Phật đản sanh, gốc cây Bồ Đề nơi Ngài Thành Đạo, tòa báu Kim Cang, nơi Ngài từng đi Kinh Hành, v.v., đều có ý nghĩa tạo Nhân Duyên gọi là “gặp Phật nghe pháp” để sớm thành Đạo Quả. Về sự kiện sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, 8 quốc gia phân phối Xá Lợi của Ngài như thế nào, các Kinh Điển ghi lại rất rõ. Theo Trường A Hàm Kinh (, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 4, Du Hành Kinh () thứ 2, lúc bấy giờ dân chúng Mạt La (Pāli: Malla, ) của nước Ba Bà (Pāli: Pāvā, ) muốn có được Xá Lợi để dựng tháp cúng dường ngay tại xứ sở mình, bèn chuẩn bị 4 loại binh lính đến thành Câu Thi Na (Sanskrit: Kuśinagara, Pāli: Kusinagara ), sai Sứ Giả cầu xin phân chia Xá Lợi. Thế nhưng, Quốc Vương nước này lại bảo rằng đức Phật Diệt độ tại nước ông, nên dân chúng trong nước có thể tự lo liệu cúng dường và từ chối không chia Xá Lợi. Đồng thời, dân chúng Bạt Ly (Pāli: Buli, ) của nước Già La Phả (Pāli: Allakappa, ), dân chúng Câu Lợi (Pāli: Koḷiya, ) của nước La Ma Già (Pāli: Rāmagāma, ), chúng Bà La Môn của nước Tỳ Lưu Đề (Pāli: Veṭhadīpa, ), dân chúng dòng họ Thích Ca (Pāli: Sakya, ) của nước Ca Tỳ La Vệ (Pāli: Kapilavatthu, ), dân chúng Ly Xa (Pāli: Licchavī, ) của nước Tỳ Xá Ly (Pāli: Vesālī, ), vua A Xà Thế (Pāli: Ajātasattu, ) của nước Ma Kiệt Đà (Pāli: Magadha, ); mỗi đoàn đều chuẩn bị 4 loại binh lính, tiến qua Sông Hằng. Trong khi đó, Bà La Môn Hương Tánh () cũng xin chia Xá Lợi, nhưng bị từ chối. Các nước nhất tề muốn dùng sức mạnh của binh khí, đao gậy để tranh giành; song Bà La Môn Hương Tánh ngăn cản, khuyên họ không nên làm như vậy; bèn phân chia Xá Lợi cho 8 quốc gia. Các nước nhận được Xá Lợi xong, trở về bôn quốc, dựng tháp cúng dường. Trong Ngụy Thư (), phần Thích Lão Chí (), có đoạn: “Phật ký tạ thế, Hương Mộc phần thi, Linh Cốt phân toái, đại tiểu như lạp, kích chi bất hoại, phần diệt bất tiêu, hoặc hữu Quang Minh thần nghiệm, Hồ ngôn vị chi Xá Lợi, Đệ Tử thâu phụng, trí chi Bảo Bình, kiệt hương hoa, trí kính mộ, kiến cung vũ, vị chi tháp (, đức Phật đã qua đời, lấy gỗ thơm đốt thi hài, Linh Cốt chia nhỏ ra, lớn nhỏ như hạt gạo, đập vào không vỡ, đem đốt không cháy, hoặc có ánh sáng Linh Nghiệm, người Hồ [Tàu] gọi đó là Xá Lợi, Đệ Tử thu gom thờ phụng, đặt vào trong bình báu, dốc hết hương hoa [cúng dường], tận tâm kính mộ, kiến lập cung điện nhà cửa, gọi đó là tháp).” Hay trong tác phẩm Cổ Kim Tiểu Thuyết (, tức Dụ Thế Minh Ngôn []) quyển 30, phần Minh Ngộ Thiền Sư Cản Ngũ Giới (), của Bằng Mộng Long (, 1574-1646) nhà Thanh, lại có đoạn: “Tụng xong, Trà Tỳ chi thứ, kiến hỏa trung nhất đạo thanh yên, trực thấu vân đoan, yên trung hiển xuất Viên Trạch toàn thân bổn tướng, hiệp chưởng hướng không nhi khứ; thiểu yên, Xá Lợi như vũ, chúng tăng thâu cốt nhập tháp (, sau khi đọc bài tụng xong, khi làm lễ Trà Tỳ [hỏa thiêu], thấy trong lửa có một làn khói xanh, xuyên thẳng lên tầng mây, trong làn khói ấy hiện rõ toàn thân hình tướng của Thiền Sư Viên Trạch, chấp tay hướng không trung mà đi; lát sau, Xá Lợi như mưa, chúng tăng thu gom cốt nhập tháp).” Hoặc trong Tục Truyền Đăng Lục (, Taishō Vol. 51, No. 2077) quyển 36, phần Tịnh Từ Trọng Dĩnh Thiền Sư Pháp Từ (), Ôn Châu Giang Tâm Nhất Sơn Thiền Sư (), cũng có đoạn rằng: “Hoàng Khánh nguyên niên thập nhất nguyệt nhị thập lục nhật, cấu tật nguy toạn bất cận dược; duyệt thất nhật, mạng cụ dục cánh y, xuất cứ thất kỷ, thư quyết chúng ngữ tọa thệ; Xà Duy thâu Ngũ Sắc Xá Lợi như thục, bất khả kế, song mục tình bất tẫn (, vào ngày 26 tháng 12 năm đầu [1312] niên hiệu Hoàng Khánh [đời vua Nhân Tông nhà Nguyên], Thiền Sư nhuốm bệnh, vẫn ngồi ngay thẳng mà không uống thuốc; trãi qua 7 ngày, ngài bảo tắm rửa, thay áo quần, ra ngồi tựa vào ghế dựa của thất, viết thư giã từ vài lời rồi ngồi mà ra đi; khi làm lễ Xà Duy [hỏa thiêu], thâu Xá Lợi năm màu nhiều như hạt đậu, không đếm được, hai tròng mắt không cháy thành tro).”